Tên Sách:

TẬP 17 - THỰC VẬT CHÍ VIỆT NAM - FLORA OF VIETNAM: 2. HỌ MÃ TIỀN - LOGANIACEAE R.Br.ex Mart

LOGANIACEAE R. Br. ex Mart. 1827 – HỌ MÃ TIỀN
(3 tông, 5 chi, 28 loài, 1 thứ)

MỞ ĐẦU

Họ Mã tiền (Loganiaceae R. Br. ex Mart.) có khoảng 15 chi với 400 loài, phân bố chủ yếu vùng nhiệt đới và cận nhiệt đới, nhiều nhất ở Nam và Đông Nam Á. Việt Nam có 5 chi với 28 loài và 1 thứ. Giá trị tài nguyên của họ Mã tiền do một số loài có chứa alcaloid là chất độc mạnh dùng trong y học làm thuốc, một số loài làm cảnh, thực phẩm,...

Các công trình nghiên cứu về hệ thống phân loại họ Mã tiền (Loganiaceae) từ rất sớm như C. Linnaeus (1753), R. Brown (1814), Martius (1827). Tiếp theo là nhiều nhà khoa học với các công trình về hệ thống phân loại họ Loganiaceae như Endlicher (1838), A. DC. Candolle (1845), Bureau (1856), G. Bentham & J. D. Hooker (1876), Leenhouts (1962), H. Melchior (1964), J. Huchinson (1969), A. L. Takhtajan (1973, 1996), Heywood (1996),...

Ở Việt Nam cũng sớm có những công trình nghiên cứu về họ Mã tiền (Loganiaceae) của tác giả người nước ngoài như J. Loureiro (1790), P. Dop (1912), C. Tirel-Roudet (1972). Công trình của các tác giả trong nước như Trần Công Khánh (1987), Phạm Hoàng Hộ (1993, 1999), Nguyễn Tiến Bân (1997), Trần Công Khánh & Nguyễn Khắc Khôi (2005),...

Ngoài ra còn có một số công trình khác về giá trị tài nguyên của họ Mã tiền như Võ Văn Chi (1991, 1997, 2012), Đỗ Tất Lợi (1995), Lê Trần Đức (1997), Đỗ Huy Bích (2004),...

Thực vật chí Việt Nam, tập 17 phần 2 họ Mã tiền (Loganiaceae R. Br. ex Mart.) là công trình phân loại đầy đủ và có hệ thống được biên soạn trên cơ sở hàng chục năm nghiên cứu. Việc điều tra thu thập mẫu vật và tư liệu được tiến hành trên khắp lãnh thổ Việt Nam, đặc biệt vùng có điều kiện thích hợp cho sự phân bố của loài họ Mã tiền. Đồng thời đã nghiên cứu tiêu bản và tư liệu ở các phòng tiêu bản trong nước như Viện Sinh thái và Tài nguyên sinh vật (HN), Khoa Sinh học - Trường Đại học Khoa học Tự nhiên (Đại học Quốc gia Hà Nội) (HNU), Viện Dược liệu (HNPM), Trường Đại học Dược Hà Nội (HNIP), Viện Sinh học nhiệt đới Tp. Hồ Chí Minh (HM),... và một số phòng tiêu bản nước ngoài.

Phần 2 tập sách dày 98 trang (trang 218-316), trình bày những nội dung cho một công trình hệ thống phân loại họ Mã tiền ở Việt Nam, bao gồm phần giới thiệu đặc điểm hình thái các đại diện ở Việt Nam, kiểm kê các hệ thống phân loại và lựa chọn hệ thống cho nghiên cứu phân loại họ Mã tiền (Loganiaceae) ở Việt Nam, phần chủ yếu là các khoá định loại các taxon. Mỗi taxon được trình bày danh pháp chính thức, các synonym, đặc điểm hình thái, mẫu chuẩn, sinh học và sinh thái, phân bố trong và ngoài nước, mẫu nghiên cứu, giá trị sử dựng, các nhận xét (nếu có).

Bên cạnh đó là 27 hình vẽ chi tiết về đặc điểm hình thái và các loài, có 6 ảnh màu, các bảng tra tên khoa học và Việt Nam, tài liệu tham khảo. Ngoài ra có phần giới thiệu bằng tiếng Anh (gồm mở đầu và các khoá định loại taxon).

Trong công trình còn tham khảo và trích dẫn tài liệu, hình vẽ, ảnh màu của các tác giả khác.

1. ĐẶC ĐIỂM HÌNH THÁI


1.1. THÂN CÂY

Trong họ Mã tiền, hầu hết các hình thái thân cây là thân cỏ, dây leo, bụi và một số là cây gỗ; cây sống một năm hoặc nhiều năm; mọc đứng, leo hay bò; cao từ vài centimét tới hàng chục mét; đôi khi trên thân cây và cành có gai hoặc móc (Strychnos) (hình 1).

1.2. LÁ (hình 1)

Lá đơn, mọc đối, đôi khi mọc vòng; nhẵn hoặc có lông. Gân lá hình lông chim hay hình cung xuất phát từ gốc lá (Mitrasacme, Strychnos). Lá có cuống hay gần như không cuống. Lá kèm thường bị tiêu giảm thành đường viền nối giữa 2 gốc cuống lá. (hình 1).

1.3. CỤM HOA (hình 2)

Thường tập trung ở nách lá hoặc đỉnh cành và có cấu tạo rất phức tạp. Cụm hoa của họ Mã tiền là do cụm hoa xim 2 ngả tồn tại độc lập, hoặc tập hợp nhau lại tạo thành cụm hoa lớn hơn, hoặc tiêu giảm bớt chỉ còn 1 hoa. Những hình thái cụm hoa chính của họ Mã tiền là:

Xim 2 ngả. Hình thái này có 2 kiểu:

+ Xim 2 ngả đơn (dichasium simplex): là một cụm hoa xim có trục chính mang hoa ở đỉnh nở trước và 2 nhánh bên mang hoa.

+ Xim 2 ngả kép (dichasium duplex): là một cụm hoa xim có trục chính mang hoa ở đỉnh và 2 nhánh bên mang xim 2 ngả.

Hình thái này thường gặp ở chi Gardneria (hình 2: 1, 2).

Tháp xim 2 ngả: Hình thái này có 2 kiểu:

+ Tháp đơn của xim 2 ngả (thyrsus dichasiorum) (gọi tắt là Tháp): gồm các cụm hoa xim 2 ngả tập hợp lại thành tháp dạng chùm.

+ Tháp kép của xim 2 ngả (dithyrsus dichasiorum) (gọi tắt là Tháp kép): gồm các cụm hoa xim 2 ngả tập hợp trên trục chính và trục bên để tạo thành tháp kép. Dạng này gặp chủ yếu ở các chi: StrychnosGelsemium (hình 2: 3, 4).

Hình 1. Đặc điểm hình thái lá, móc, gai và lá kèm của một số đại diện của họ Loganiaceae ở Việt Nam

1. lá đơn mọc đối và mọc vòng, gân lá 1 và 3 (Mitrasacme pygmaea); 2. lá đơn mọc đối, gân lá hình lông chim (Gelsemium elegans); 3. lá đơn mọc đối, gân hình vòng cung, móc đơn và gai (Strychnos axillaris); 4. lá đơn mọc đối, gân lá hình cung và móc đôi (Strychnos vanprukii); 5. lá kèm hình đường viền (Strychnos nitida); 6. lá kèm hình lưỡi (Mitreola reticulata)

Hình 2. Sơ đồ một số hình thái cụm hoa của họ Loganiaceae ở Việt Nam

1. xim hai ngả đơn; 2. xim hai ngả kép; 3. tháp đơn của xim hai ngả; tháp kép của xim hai ngả; 5. xim hai ngả đơn của xim bọ cạp; 6. xim hai ngả kép của xim bọ cạp; 7, 8. hoa đơn độc; 9. tán dạng xim

Xim 2 ngả của xim bọ cạp: Hình thái này có 2 kiểu là:

+ Xim 2 ngả đơn của xim bọ cạp (dichasium cincinnorum): trục chính mang hoa ở đỉnh và 2 nhánh bên (nhánh cấp II) đến mang hoa mọc về một phía.

+ Xim 2 ngả nhiều lần của xim bọ cạp (dichasium multiplex cincinnorum): cụm hoa có thể là xim 2 ngả kép (3 lần hoặc 4 lần) đều hoặc không đều của xim bọ cạp. Trục chính và các nhánh cấp II và III đều mang hoa ở đỉnh, các nhánh bên là xim bọ cạp, hoặc là xim hai ngả của xim bọ cạp tiếp theo.

Hình thái cụm hoa này thường gặp ở chi Mitreola (hình 2: 5, 6).

Hoa đơn độc: lá do cụm hoa xim 2 ngả bị tiêu giảm các hoa bên tạo thành.

Hình thái này gặp ở loài Mitrasacme indica (hình 2: 7, 8).

Tán dạng xim (umbella cymoidea): là những cụm hoa xim thoái hoá do sự rút ngắn rất mạnh của các trục chính hay trục bên, khiến các nhánh bên sít lại gần nhau đến nỗi tưởng chúng xuất phát từ một điểm, hoặc có sự xuất hiện của các hoa dư thừa tạo thành. Dạng này gặp ở các loài Mitrasacme erophilaMitrasacme pygmaea (hình 2: 8).

1.4. LÁ BẮC

Thường có các hình dạng khác nhau như: hình tam giác, hình mũi mác hay giống lá ở thân hoặc tiêu giảm; kích thước thường nhỏ; nhẵn hay có lông tơ.

1.5. HOA (hình 3: 1)

Hoa lưỡng tính, đều, mẫu 5 hay mẫu 4.

1.6. ĐÀI

Đài có thuỳ rời hoặc dính nhau từ gốc; có tiền khai lợp, đôi khi van (Mitrasacme); có màu lục, hiếm khi màu kem hoặc màu vàng. (hình 3).

1.7. TRÀNG (hình 3: 1)

Tràng hợp; hình dạng thay đổi: hình chuông, hình ống hoặc hình phễu; thuỳ tràng dài hoặc ngắn hơn ống tràng, có tiền khai lợp (Gelsemium, Mitreola) hay tiền khai van (Gardneria, Mitrasacme, Strychnos); màu trắng, màu kem hoặc màu vàng.

1.8. BỘ NHỊ

Nhị đẳng số, đính trên ống tràng và xen kẽ với các thuỳ của tràng, thụt hoặc thò ra khỏi ống tràng. Chỉ nhị rời, ngắn hoặc dài hơn bao phấn. Bao phấn có 2 ô, mở bằng khe dọc, đính ở gốc hoặc đính lưng, hướng trong hoặc đôi khi hướng ngoài (Mitrasacme).

Hình 3. Một số hình thái hoa, nhụy và quả của họ Loganiaceae ở Việt Nam

1. hoa: 1 (a-c). tràng hình chuông; 1d. tràng hình phễu; 1e. tràng hình ống;2. nhụy: 2 (a, b). núm nhụy 2; 2c. núm nhụy 4; 2 (d, e). núm nhụy 1; 3. quả: 3 (a-c). quả nang; 3 (d, e). quả mọng

1.9. BỘ NHUỴ (hình 3: 2)

Bộ nhuỵ gồm 3-2 lá noãn hợp. Bầu thượng, đôi khi bầu trung (Mitreola, Mitrasacme); 2-3 ô, mỗi ô có 1 tới nhiều noãn đính ngược trên trụ giữa hoặc đính ở vách (nếu 1 ô). Vòi nhuỵ đơn. Núm nhuỵ nguyên hoặc có 2-4 thuỳ.

1.10. QUẢ (hình 3: 3)

Quả mọng (Gardneria, Strychnos) hay quả nang (Gelsemium, Mitrasacme, Mitreola). Hạt nhiều, có khi 1; kích thước thường nhỏ, hình bầu dục hoặc có góc, đôi khi có cánh. Nội nhũ nạc hoặc sừng. Phôi ít, thẳng. Lá mầm nhỏ.

Typus: Logania R. Br. (nom. cons).

Họ Mã tiền (Loganiaceae) có 15 chi với 400 loài, gặp chủ yếu ở vùng nhiệt đới và cận nhiệt đới có nhiều ở Nam và Đông Nam Á. Ở Việt Nam có 5 chi: Gardneria, Gelsemium, Mitrasacme, Mitreola, Strychnos; với 28 loài và 1 thứ.

Trong đó chi Gardneria, với 1 loài Gardneria ovata Wall. mới phát hiện thấy có ở Việt Nam.

Đây là một họ có giá trị thực tiễn, một số loài có chứa alcaloid có trong chi GelsemiumStrychnos là chất độc mạnh, nhưng với liều lượng nhỏ lại được dùng làm thuốc dùng trong y học, một số loài được trồng làm cảnh.

2. HỆ THỐNG PHÂN LOẠI

Trên thế giới, C. Linnaeus có thể coi là người đầu tiên đặt nền móng cho phân loại thực vật. Trong tác phẩm nổi tiếng: Species plantarum (1753) tác giả đã đặt tên cho rất nhiều chi và loài Thực vật. Các chi và loài sau này thuộc họ Mã tiền (Loganiaceae) được C. Linnaeus xếp trong 2 nhóm: nhóm 4 nhị, một vòi nhị (tetrandria monogynia) có Buddleja, Polypremum; nhóm 5 nhị, một vòi nhuỵ (pentandria monogynia) có Strychnos, Spigelia. Đây là kiểu phân chia sơ khai và còn có sự nhầm lẫn với nhiều chi và loài của các họ Thực vật khác có chung đặc điểm này. R. Brown (1814) người đầu tiên đặt tên cho họ Mã tiền là Loganiaceae bao gồm các chi Logania, Geniostoma, Usteria, Gaertnera, Pagamea, Fagraea. Tuy nhiên phải tới Martius (1827), họ Mã tiền mới chính thức được coi là một taxon riêng với tên gọi Loganieae, được lấy từ tên chi Logania. Tên taxton bậc họ của R. Brown và Martius chưa đứng sau được sửa lại cho đúng Luật Danh pháp là Loganiaceae R. Br. ex Mart. với typus là Logania R. Br. (nom. cons.). Sau khi họ Mã tiền (Loganiaceae) được thành lập, đồng thời với việc bổ sung các taxon dưới họ có rất nhiều các hệ thống phân loại ra đời như: Endlicher (1838), A. De Candolle (1845), Bureau (1856), G. Bentham & J. D. Hooker (1876), Leenhouts (1962), H. Melchior (1964), J. Hutchinson (1969), A. L. Takhtajan (1973, 1996), Heywood (1996),... Các hệ thống phân loại họ Mã tiền (Loganiaceae) theo 3 quan điểm; Họ Mã tiền với quy mô mở rộng gồm nhiều taxon bậc tông và bậc chi họ Mã tiền với qui mô thu hẹp, được chia thành nhiều họ nhỏ và họ Mã tiền với qui mô vừa phải, gần với quan điểm thứ nhất nhưng tách bớt một số tông có đặc điểm khác biệt.

Quan điểm 1: Họ Mã tiền (Loganiaceae) với quy mô mở rộng bao gồm các taxon bậc tông và bậc chi có: Endlicher (1938) chia họ Mã tiền thành 5 tông: Loganieae, Strychneae, Potalieae, Antonieae, Gaertnereae. Meisner (1840) phân chia giống Endlicher (1938) bổ sung thêm tông Spigelieae. G. Bentham & J. D. Hooker (1876) với 30 chi được xếp trong 3 tông: Gelsemieae, Euloganieae và Gaertnereae. Tông Euloganieae được tác giả chia thành 5 phân tông: Spigelieae, Strychneae, Fagreae, Antonieae Buddliejeae. Hệ thống G. Bentham & J. D. Hooker là một hệ thống khá nổi tiếng đã thịnh hành trong một thời gian dài cho đến giữa thế kỷ XX. Leenhouts (1962) phân chia họ Loganiaceae thành 7 tông; các phân tông trong hệ thống của G. Bentham & J. D. Hooker được tác giả nâng bậc thành tông. Heywood (1996) phân chia 29 chi của họ thành 10 tông, 7 tông giống với hệ thống của Leenhouts, bổ sung 3 tông là Plocospermeae, DesfontainieaeRetzieae. Quan điểm thứ 1 cho đến nay vẫn còn có các nhà thực vật sử dụng.

Quan điểm 2: Chia họ Mã tiền (Loganiaceae) thành nhiều họ nhỏ. Tiêu biểu cho quan điểm này là J. Hutchinson (1969) chia họ Loganiaceae thành 7 họ: Loganiaceae, Potaliaceae, Buddlejaceae, Antoniaceae, Spigeliaceae, StrychnaceaePlocospermaceae các họ này tương ứng với các tông trong quan điểm thứ nhất. A. L. Takhtajan (1996) chia họ Loganiaceae thành 10 họ: Loganiaceae, Gelsemiaceae, Geniostomaceae, Gentianaceae (Rotalieae), Buddlejaceae, Antoniaceae, Spigeliaceae, Strychnaceae, PlocospermataceaeSaecipoliaceae. Theo A. L. Takhtajan các chi trong họ Potaliaceae của J. Hutchinson được nhập vào thành một tông của Gentianaceae và ngược lại họ Loganiaceae của J. Hutchinson (1969) tách thành 3 họ: Loganiaceae, GeniostomaceaeGelsemiaceae. Quan điểm 2 cho đến nay ít được các nhà thực vật sử dụng.

Quan điểm 3: Gần với quan điểm thứ nhất nhưng tách bớt một số tông có những đặc điểm quá khác biệt ra khỏi họ Mã tiền. Tiêu biểu cho quan điểm này có: Melchior (1964) với 17 chi họ Mã tiền xếp vào 6 tông: Gelsemieae, Loganieae, Spigelieae, Antonieae, StrychneaePotalieae. Tông Buddlejeae thành họ Buddlejaceae. A. L. Takhtajan (1973) với 15 chi đã xếp vào 4 tông Gelsemieae, Loganieae, SpigehieaeStrychneae. Các tông Buddlejeae, Antonieae, Potalieae đã được chuyển thành các họ độc lập. Cùng với quan điểm này còn có một số hệ thống khác như: Cronquist (1981), Thorne (1983). Như vậy có thể thấy quan điểm 3 là khá phù hợp, vì có số lượng các taxon vừa phải, thuận lợi cho việc nghiên cứu họ Mã tiền nên được nhiều nhà thực vật sử dụng.

Ở Việt Nam, Loureiro (1790) mô tả 2 loài sau này thuộc họ Loganiaceae, tác giả cũng xếp trong nhóm 4 nhị và 5 nhị với một vòi nhuỵ như C. Linnaeus. Công trình đáng chú ý của Paul Dop (1912) tác giả đã mô tả 6 chi 27 loài toàn Đông Dương, trong đó Việt Nam gặp 5 chi 19 loài. Về mặt hệ thống tác giả theo hệ thống G. Bentham & J. D. Hooker (1876), chi Buddleja vẫn được để trong họ Loganiaceae.

C. Tirel-Roudet (1972) trong Flore du Cambodge du Laos et du Vietnam đã mô tả 5 chi 27 loài toàn Đông Dương trong đó Việt Nam gặp 5 chi 21 loài. Tác giả đã tách Buddleja ra khỏi Loganiaceae, song chi Fagraea vẫn để trong họ Mã tiền.

Trần Công Khánh (1987) khi nghiên cứu chi Strychnos ở Việt Nam đã công bố 2 loài mới cho khoa học là Strychnos daclacensisStrychnos sonlaensis, đưa tổng số loài của chi này lên 19 loài.

Phạm Hoàng Hộ (1993) trong Cây cỏ Việt Nam mô tả ngắn gọn với hình vẽ của 5 chi 30 loài. Tác giả vẫn để chi Fagraea trong họ Loganiaceae.

Nguyễn Tiến Bân (1997) trong “Cẩm nang tra cứu và nhận biết các họ thực vật hạt kín ở Việt Nam” tác giả ghi nhầm họ Loganiaceae có 4 chi khoảng 25 loài, chi Fagraea đã được chuyển sang họ Potaliaceae.

Trần Công Khánh & Nguyễn Khắc Khôi (2005) trong “Danh lục các loài thực vật Việt Nam” đã kiểm kê 4 chi và 27 loài ở Việt Nam.

Ngoài các công trình kể trên còn một số công trình lẻ tẻ có đề cập đến họ Mã tiền trên các lĩnh vực khác. Như vậy có thể nói rằng cho đến nay chưa có công trình nào nghiên cứu đầy đủ về mặt phân loại họ này. Thực vật chí Việt Nam họ Mã tiền (Loganiaceae) được biên soạn sẽ là những đóng có giá trị.

Nghiên cứu họ Mã tiền (Loganiaceae) ở Việt Nam chúng tôi đã lựa chọn hệ thống phân loại của A. L. Takhtajan (1973) đây là hệ thống có số lượng taxon vừa phải, nó giải thích tương đối thoả đáng mối quan hệ chủng loại của các taxon.

Bảng 1. HỆ THỐNG PHÂN LOẠI HỌ LOGANIACEAE R. Br. ex Mart. Ở VIỆT NAM (Theo A. L. Takhtajan, 1973)

(3 tông, 5 chi, 28 loài, 1 thứ)

Tông (Tribe) (5 chi)

Chi (Genus) (28 loài, 1 thứ)

Trib.1. Spigelieae (2 chi, 6 loài, 1 thứ)

1. Mitreola (2 loài)

2. Mitrasacme (4 loài và 1 thứ)

Trib.2. Gelsemieae (1 chi, 1 loài)

3. Gelsemium (1 loài)

Trib.3. Strychneae (2 chi, 21 loài)

4. Gardneria (1 loài)

5. Strychnos (20 loài)

KHOÁ ĐỊNH LOẠI CÁC CHI THUỘC HỌ LOGANIACEAE R. Br. ex Mart. Ở VIỆT NAM

1A. Cỏ 1 hoặc nhiều năm (Trib.1. Spigelieae)
2A. Lá có gân hình lông chim rõ. Hoa mẫu 5; đài và tràng có tiền khai hoa lợp 1. MITREOLA
2B. Lá chỉ có một gân giữa, hiếm khi 3 gân. Hoa mẫu 4; đài và tràng có tiền khai van. 2. MITRASACME
1B. Cây gỗ, cây bụi hoặc dây leo gỗ.  
3A. Thùy tràng có tiền khai hoa lợp. Quả nang

(Trib.2. Gelsemieae)

3. GELSEMIUM

3B. Thùy tràng có tiền khai van. Quả mọng (Trib.3. Strychneae)
4A. Lá có gân hình lông chim, không có móc. 4. GARDNERIA
4B. Lá có gân hình cung, thường có móc. 5. STRYCHNOS

 

 

 

Sách Thực vật chí khác
TẬP 21 - THỰC VẬT CHÍ VIỆT NAM - FLORA OF VIETNAM: HỌ GỪNG – ZINGIBERACEAE Lindl.
Tác giả: Nguyễn Quốc Bình
TẬP 20 - THỰC VẬT CHÍ VIỆT NAM - FLORA OF VIETNAM: HỌ LONG NÃO - LAURACEAE Juss
Tác giả: Nguyễn Kim Đào
TẬP 15 - THỰC VẬT CHÍ VIỆT NAM - FLORA OF VIETNAM: HỌ THIÊN LÝ – ASCLEPIADACEAE R. Br.
Tác giả: Trần Thế Bách
Tập 13 - THỰC VẬT CHÍ VIỆT NAM - FLORA OF VIETNAM: HỌ CAU – ARECACEAE Schultz-Sch.
Tác giả: Andrew Henderson, Trần Thị Phương Anh
TẬP 18 - THỰC VẬT CHÍ VIỆT NAM - FLORA OF VIETNAM: HỌ TAI VOI - GESNERIACEAE Dumort.
Tác giả: Vũ Xuân Phương
TẬP 19 - THỰC VẬT CHÍ VIỆT NAM - FLORA OF VIETNAM: HỌ CHÈ - THEACEAE D. Don
Tác giả: Nguyễn Hữu Hiến
TẬP 17 - THỰC VẬT CHÍ VIỆT NAM - FLORA OF VIETNAM: 2. HỌ MÃ TIỀN - LOGANIACEAE R.Br.ex Mart
Tác giả: Vũ Văn Hợp, Vũ Xuân Phương
TẬP 17 - THỰC VẬT CHÍ VIỆT NAM - FLORA OF VIETNAM: 1.HỌ CÀ - SOLANACEAE Juss.
Tác giả: Vũ Văn Hợp
TẬP 16 - THỰC VẬT CHÍ VIỆT NAM - FLORA OF VIETNAM: HỌ RÁY - ARACEAE Juss.
Tác giả: Nguyễn Văn Dư
TẬP 14 - THỰC VẬT CHÍ VIỆT NAM - FLORA OF VIETNAM: HỌ BÔNG - MALVACEAE Juss.
Tác giả: Đỗ Thị Xuyến
Tập 12 - THỰC VẬT CHÍ VIỆT NAM - FLORA OF VIETNAM: HỌ BỒ HÒN - SAPINDACEAE Juss.
Tác giả: Hà Minh Tâm