Tên Sách:

TẬP 14 - THỰC VẬT CHÍ VIỆT NAM - FLORA OF VIETNAM: HỌ BÔNG - MALVACEAE Juss.

MALVACEAE Juss. 1789 - HỌ BÔNG
(4 tông, 18 chi, 62 loài, 1 phân loài, 5 thứ)

MỞ ĐẦU

Họ Bông (Malvaceae Juss.) có khoảng 111 chi với 1800 loài, phân bố từ vùng nhiệt đới đến vùng ôn đới trên khắp thế giới. Việt Nam có 18 chi, với 62 loài, 1 phân loài và 5 thứ, phân bố trong cả nước. Giá trị tài nguyên của họ Bông khá quan trọng cả về mặt khoa học lẫn giá trị sử dụng trong đời sống nhân dân.

Các công trình nghiên cứu về hệ thống phân loại của họ Bông được bắt đầu từ rất sớm như C. Linnaeus (1753), A. J. Cavalillé (1785), F. C. Medik (1878), A. J. Jussieu (1789),… Sau đó là hàng loạt các tác giả: A. P. de Candolle (1824), H. L. Edlin (1935), A. P. Fryxell (1975, 1988), A. Takhtajan (1987), Thorne (2000), S. R. Hinsley (2002-2004), C. Bayer & K. Kubizki (2003),...

Ở Đông Dương và Việt Nam cũng sớm có những tác giả người nước ngoài nghiên cứu họ Bông như J. Loureiro (1790), F. Gagnepain (1910, 1945). Bên cạnh đó, các công trình của tác giả người Việt Nam về họ Bông ngày càng nhiều và bổ sung thêm taxon và tư liệu cho hệ thực vật Việt Nam như Lê Khả Kế (1971), Phạm Hoàng Hộ (1970, 1991, 1999), Trần Đình Lý (1984), Nguyễn Tiến Bân (1997), Nguyễn Tiến Bân và Đỗ Thị Xuyến (2003), Đỗ Thị Xuyến (2005, 2006). Ngoài ra, có một số công trình về giá trị sử dụng của họ Bông như Võ Văn Chi (1997, 2012), Đỗ Tất Lợi (2000), Đỗ Huy Bích và cộng sự (2004),...

Các nước lân cận với Việt Nam cũng có những nghiên cứu về phân loại họ Bông như M. T. Masters (Ấn Độ) (1875), W. J. van Borss (Malaixia) (1966-1967), C. A. Backer & R. C. Backuizen (Inđônêxia) (1965), K. M. Feng (Trung Quốc) (1984), C. E. Chang (Đài Loan) (1993),...

Thực vật chí Việt Nam, tập 14 _ họ Bông (Malvaceae Juss.) là công trình phân loại đầy đủ và có hệ thống được biên soạn trên cơ sở hàng chục năm nghiên cứu. Việc điều tra thu thập mẫu vật và tư liệu được tiến hành trên khắp lãnh thổ Việt Nam, đặc biệt các vùng có điều kiện thích hợp cho sự phân bố các loài họ Bông. Đồng thời đã nghiên cứu tiêu bản và tư liệu ở các phòng tiêu bản trong nước như Phòng Tiêu bản Viện Sinh thái và Tài nguyên sinh vật (HN), Phòng Tiêu bản Trường Đại học Khoa học Tự nhiên _ Đại học Quốc gia Hà Nội (HNU), Phòng Tiêu bản Viện Điều tra quy hoạch rừng (HNF), Phòng Tiêu bản Viện Dược liệu Hà Nội (HNPI), Phòng Tiêu bản VQG Pù Mát (Nghệ An) (HPNP), Phòng Tiêu bản Viện Sinh học Nhiệt đới Tp. Hồ Chí Minh (HM),... và các phòng tiêu bản nước ngoài như Phòng Tiêu bản Viện Thực vật Côn Minh _ Trung Quốc (KUN), Phòng Tiêu bản Viện Thực vật Quảng Tây _ Trung Quốc (KIB),... cũng như quan hệ hợp tác quốc tế để trao đổi thông tin.

Tập sách dày 316 trang, trình bày những nội dung cho một công trình hệ thống phân loại họ Bông ở Việt Nam bao gồm giới thiệu đặc điểm hình thái các đại diện ở Việt Nam, kiểm kê các hệ thống phân loại và lựa chọn hệ thống cho nghiên cứu phân loại họ Bông (Malvaceae) ở Việt Nam; phần chủ yếu là các khoá định loại taxon. Mỗi taxon được trình bày danh pháp, synonym, đặc điểm hình thái, mẫu chuẩn, sinh học và sinh thái, phân bố trong và ngoài nước, mẫu nghiên cứu, giá trị sử dụng, các nhận xét (nếu có).

Kèm theo đó là 82 hình vẽ về đặc điểm hình thái và các loài, 61 ảnh màu, các bảng tra tên khoa học và Việt Nam, tài liệu tham khảo. Ngoài ra còn có phần giới thiệu bằng tiếng Anh (mở đầu và các khóa định loại taxon).

Trong công trình còn tham khảo và trích dẫn tư liệu, hình vẽ, ảnh màu của các tác giả khác.

1. ĐẶC ĐIỂM HÌNH THÁI
1.1. THÂN (hình 1, 2; ảnh 1)

Các loài thuộc họ Bông gồm những cây bụi lớn (Hibiscus, Thespesia) hay cây bụi nhỏ (Hibiscus, Urena, Malvaviscus,...) hay nửa bụi (Abelmoschus, Sida, Urena), đôi khi là những cây gỗ lớn (Kydia), gỗ nhỡ hay gỗ nhỏ (Thespesia, Hibiscus) hay cây thân cỏ (Abelmoschus, Sida, Alcea, Decaschistia,...), cỏ một năm (Decaschistia, Abelmoschus,...) hay nhiều năm (Sida, Alcea,...), cỏ đứng (Sida, Malvastrum,...) hay cỏ bò (Sida). Cây có thể phân cành nhiều hay ít.

Hình 1. Một số hình thái thân, rễ củ của họ Bông

1, 2. cỏ đứng (1. Malvastrum coromandelianum (L.) Garcke; 2. Sida rhombifolia L.); 3. cỏ bò (Sida rhombifolia var. retusa (L.) Mast.); 4, 5. rễ củ (4. Abelmoschus sagittifolius (Kurz) Merr.; 5. Decaschistia intermedia Craib)

Hình 2. Một số hình thái lông, hốc tuyến, gai và rãnh của họ Bông

1, 2. lông hình sao (1. Talipariti tiliaceus (L.) Fryxell; 2. Urena lobata L.); 3, 4. lông nhung mềm (3. Talipariti macrophyllus (Roxb. ex Hornem) Fryxell; 4. Sida mysorensis Wight & Arn.); 5, 6. lông cứng mọc kép (5, 6. Talipariti macrophyllus (Roxb. ex Hornem) Fryxell); 7. lông cứng mọc đơn (Sida cordifolia L.); 8, 9. lông móc (8, 9. Urena lobata L.); 10. thân có rãnh (Hibiscus syriacus L.); 11. thân có gai (Hibiscus acetosella Welw. ex Fic.); 12, 13. lông hình sao trên lá (12. Malvaviscus arboreus Cav.; 13. Sida mysorensis Wight & Arn.); 14. lông hình sao và lông nhung mềm trên lá (Sida mysorensis Wight & Arn.); 15. lông tuyến (Urena lobata L.); 16-19. hốc tuyến trên gân ở mặt sau lá (16. Kydia calycina Roxb.; 17. Pavonia repanda (Roxb.) Spreng.; 18. Gossypium hirsutum L.; 19. Kydia glabrescens Mast.)

Thân tròn, rất hiếm khi gặp thân vuông hay có cạnh (Gossypium), thân và cành non có lông, ít khi nhẵn. Lông bao phủ là lông hình sao (Hibiscus, Alcea, Kydia,...), đôi khi gặp cả những lông có móc (Urena), lông hình khiên (Hibiscus gagnepainii), lông tuyến (Sida, Urena), thậm chí gặp lông cứng mọc ngược trên thân và cành nên rất dễ đâm vào tay (Abelmoschus, Cenocentrum) hay tuyến chất sáp (Hibiscus mutabilis).

Một số ít đại diện ở thân có gai nhỏ, thẳng hay có móc (Hibiscus), có lỗ vỏ (bì khổng) (Hibiscus). Thân có thể có rãnh dọc (Hibiscus) hay có rễ mọc ra ở đốt (Sida). Trong họ có một số đại diện còn có mùi hôi đặc trưng (Sida). Thân cành có vỏ do các sợi libe tạo thành, một số ít có rễ phát triển thành củ (Abelmoschus, Decaschistia). Thân và cành màu xanh, một số ít màu đỏ hay tím (Hibiscus).

1.2. LÁ (hình 3, 4; ảnh 2)

Hình 3. Một số hình thái lá nguyên của họ Bông

1-3. lá hình tim (1. Hibiscus mesnyi Pierre ex Laness; 2. Sida mysorensis Wight & Arn.; 3. S. cordata (Burm. f.) J. V. Borss.); 4. lá hình tim ngược (Sida rhombifolia var. retusa (L.) Mast.); 5, 6. lá hình tim tròn (5. Kydia calycina Roxb.; 6. Abelmoschus crinitus Wall.); 7, 8. lá hình tròn (7. Sida subcordata Span.; 8. S. parvifolia DC.); 9-11. lá hình trứng (9. Hibiscus schizopentalus (Dyer) Hook. f.; 10. H. grewiaefolius Hassk.; 11. Sida szechuensis Matsuda); 12, 13. lá hình trứng ngược (12. Sida rhombifolia var. retusa (L.) Mast.; 13. Kydia glabrescens Mast.); 14. lá hình mũi tên (Abelmoschus sagittifolius (Kurz.) Merr.); 15. lá hình thoi (15. Sida rhombifolia L.); 16. lá hình bầu dục (Sida rhombifolia L.); 17. lá hình thuôn dài (Sida acuta Burm. f.); 18. lá hình dải (Decaschistia intermedia Craib)

Hình 4. Một số hình thái lá có thùy, phân thùy, xẻ thùy của họ Bông

1, 2. lá có 3 thùy (1. Hibiscus poilanei Gagnep.; 2. Abelmoschus moschatus Medik.); 3. lá phân 3 thùy (Hibiscus hispidissimus Griffith.); 4. lá xẻ 3 thùy (Abelmoschus manihot var. pungens (Roxb.) Hochr.); 5. lá có 5 thùy (Malva sylvestris L.); 6. lá phân 5 thùy (Abelmoschus esculentus (L.) Moench); 7-12. lá xẻ 5-7 thùy (7. Abelmoschus moschatus Medik.; 8. Hibiscus hispidissimus Griffith; 9. Abelmoschus sagittifolius (Kurz) Merr.; 10. Abelmoschus esculentus (L.) Moench.; 11. A. manihot var. pungens (Roxb.) Hochr.; 12. Hibiscus cannabinus L.); 13. lá có nhiều thùy (Cenocentrum tonkinense Gagnep.); 14. lá phân thùy cấp 2 (Urena sinuata L.)

Lá đơn, mọc cách, kích thước lớn nhỏ khác nhau, có nhiều hình thái như hình tim (Abutilon, Kydia, Hibiscus), tim ngược (Sida), tim tròn hay tròn (Sida, Kydia), trứng (Sida, Wissadula, Hibiscus), trứng ngược (Kydia, Sida), bầu dục (Hibiscus), thoi (Sida) mũi tên (Abelmoschus), mũi giáo (Malvaviscus), thuôn dài (Sida) hay hình dải (Decaschistia).

Lá nguyên (Sida, Hibiscus, Pavonia,...) hay chia thuỳ chân vịt, đều hay không đều nhau, thuỳ nông (Abelmoschus, Malachra, Urena), chỉ hơi gợn sóng (Kydia, Urena) hay hơi có góc (Hibiscus, Malvaviscus), cũng có khi xẻ 3 (Abelmoschus, Gossypium) hay 5 (Abelmoschus, Hibiscus) hay 7 (Hibiscus) thuỳ rất sâu, rất hiếm khi 9 hay nhiều thùy (Cenocentrum) có thể có hình chia thuỳ cấp 2 (Urena).

Gốc lá hình tim hay hình tròn hoặc gốc bằng, thon; chóp lá có thể nhọn hay tròn, tù hay hình kéo dài thành mũi; mép lá có răng cưa đều hay không đều, thưa hay mau, to hay nhỏ, đôi khi là mép nguyên, gân lá hình chân vịt với 3, 5, 7 gân xuất phát từ gốc (Sida, Hibiscus, Gossypium, Malva) hay gân hình lông chim (Sida, Hibiscus, Decaschistia); lá nhẵn hay chỉ có lông ở một mặt hoặc có lông ở cả 2 mặt với các hình thái lông giống như ở thân và cành; cuống lá dài, hiếm khi gần như không cuống (Abutilon), phủ lông, ít khi nhẵn. Trên gân gốc ở mặt dưới có hốc tuyến (Talipariti, Kydia, Pavonia, Gossypium). Lá màu xanh, một số ít màu đỏ hay tím (Hibiscus).

1.3. LÁ KÈM (hình 5)

Hình 5. Một số hình thái lá kèm của họ Bông

1. lá kèm 2 cái có hình thái và kích thước khác nhau (Sida acuta Burm. f.); 2, 3. lá kèm hình bàn tay (2, 3. Alcea rosea L.); 4-7. lá kèm hình trứng (4. Abelmoschus manihot var. pungens (Roxb.) Hochr.; 5. Cenocentrum tonkinense Gagnep.; 6, 7. Talipariti tiliaceus (L.) Fryxell); 8. lá kèm hình tai (Hibiscus surattensis L.); 9. lá kèm hình bầu dục (Talipariti macrophyllus (Roxb. ex Hornem) Fryxell); 10. lá kèm hình mũi giáo (Hibiscus hispidissimus Griffith); 11. lá kèm hình dải (Abelmoschus crinitus Wall.); 12, 13. lá kèm hình kim (12. Abelmoschus moschatus Medik.;13. Pavonia repanda (Roxb.) Spreng.)

Tất cả các chi đều có lá kèm 2 cái giống nhau cả về hình thái và kích thước, hiếm khi gặp lá kèm 2 cái khác nhau (Sida acuta). Lá kèm hình dải hay hình kim (Abelmoschus, Pavonia, Sida, Abutilon, Hibiscus, Malvastrum,...), hình mũi giáo (Hibiscus, Gossypium), hình trứng hay trứng rộng (Talipariti, Albelmoschus), hình bầu dục hay bầu dục rộng (Hibiscus, Talipariti), hình tai (Hibiscus) hay hình bàn tay (Alcea, Decaschistia); có lông trên cả 2 mặt, rất ít khi nhẵn. Lá kèm sớm rụng.

1.4. CỤM HOA (hình 6, 7)

Hình 6. Một số loại sơ đồ cụm hoa của họ Bông

1. hoa mọc đơn độc ở đỉnh cành (Decaschistia, Hibiscus); 2. hoa mọc đơn độc ở nách lá (Hibiscus, Sida); 3. cụm hoa xim 1 ngả đơn (Sida, Hibiscus); 4. cụm hoa xim 2 ngả đơn (Hibiscus); 5, 6. cụm hoa xim hình tán (5, 6. Malva, Hibiscus); 7. cụm hoa chùm đơn (Alcea, Hibiscus, Abelmoschus); 8. cụm hoa chùm kép (Hibiscus, Wissadula); 9. cụm hoa chùy (của) tán (Kydia)

Hoa mọc đơn độc (Hibiscus, Sida, Abutilon, Malvaviscus, Malvastrum,...) hay cụm hoa hình xim một ngả đơn (Alcea, Hibiscus, Sida), xim hai ngả đơn (Hibiscus, Sida) ở nách lá hoặc đỉnh cành. Ở một số đại diện của các chi còn có hoa xếp thành chùm ở đỉnh cành hay ở đỉnh cành và ở nách lá (Malva, Sida, Hibiscus), chùm đơn (Abelmoschus, Sida) hay chùm kép (Hibiscus, Wissadula) hoặc cụm hoa xim hình tán ít hay nhiều hoa (Malva, Pavonia, Hibiscus) ở đỉnh cành hoặc chùy (của) tán mà các đơn vị nhỏ là các cụm hoa hình tán (Kydia), hiếm khi thấy cụm hoa hình đầu (Malachra).

Hình 7. Một số hình thái cụm hoa của họ Bông

1. hoa mọc đơn độc ở nách lá (Decaschistia parvifolia Kurz); 2. cụm hoa xim 1 ngả đơn (Sida cordata (Burm. f.) Borss.); 3. cụm hoa xim 2 ngả đơn (Hibiscus fragrans Roxb.); 4. cụm hoa đầu giả (Pavonia repanda (Roxb.) Spreng.); 5. cụm hoa xim hình tán (Malva crispa (L.) L.); 6-11. cụm hoa chùm đơn (6. Sida mysorensis Wight & Arn.; 7. Alcea rosea L.; 8. Abelmoschus manihot var. pungens (Roxb.) Hochr.; 9. Talipariti tiliaceus (L.) Fryxell; 10. Abelmoschus crinitus Wall.; 11. Cenocentrum tonkinense Gagnep.); 12. cụm hoa chùm kép (Talipariti macrophyllus (Roxb. ex Hornem) Fryxell); 13. cụm hoa chùy (của) tán (Kydia calycina Roxb.)

1.5. HOA (hình 8, 9; ảnh 3)

Hoa đều, lưỡng tính, bao hoa mẫu 5 với nhiều màu sắc, hiếm khi gặp hoa đơn tính cùng gốc (Kydia). Một số loài có khả năng đổi màu tuỳ theo thời gian nở (Hibiscus, Gossypium,...), hay không bao giờ đổi màu trong suốt thời gian nở (Sida, Abutilon,...). Hoa hướng lên ngọn (Hibiscus, Sida, Abutilon, Malva, Urena,...) hay cũng có đại diện có hoa rủ xuống (Malvaviscus, Hibiscus). Cánh hoa xoè ra khi nở (Hibiscus, Sida, Abutilon, Malva, Urena,...) hay không bao giờ xoè ra trong suốt quá trình nở (Malvaviscus). Hoa kích thước nhỏ, đường kính dưới 2 cm (Sida, Malvastrum, Kydia) hay kích thước lớn, đường kính trên 2 cm, có thể lên tới 18 cm (Hibiscus, Thespesia, Gossypium). Các bộ phận của hoa có lông phủ nhiều hay ít, hiếm khi nhẵn, tiền khai hoa xếp van. Nụ hoa hình nón (Hibiscus), hình trứng (Abutilon) hay hình trứng ngược (Sida), có cạnh (Sida, Malvastrum).

Hình 8. Một số hình thái nụ hoa của họ Bông

1-7. nụ hoa chưa tách đài (1. Hibiscus schizopentalus (Dyer) Hook. f.; 2. H. mesnyi Pierre ex Laness.; 3. Sida cordata (Burm. f.) Borss.; 4. Abelmoschus esculentus (L.) Moench; 5. Hibiscus surattensis L.; 6. Abutilon indicum (L.) Sweet; 7. Hibiscus hispidissimus Griffith); 8, 9. nụ hoa đã tách đài (8. Hibiscus mesnyi Pierre ex Laness.; 9. Decaschistia parvifolia Kurz)

Hình 9. Một số hình thái hoa, hoa đã tách tràng và hoa bổ dọc của họ Bông

1-9. hoa (1. Hibiscus cannabinus L.; 2. Urena lobata L.; 3. Hibiscus schizopentalus (Dyer) Hook. f.; 4. H. surattensis L.; 5. Abutilon crispum (L.) Medik.; 6. Hibiscus fragrans Roxb.; 7. Sida rhombifolia var. retusa (L.) Mast.; 8. S. rhombifolia L.; 9. Kydia glabrescens Mast.); 10. hoa đã tách tràng (Wissadula periplocifolia (L.) Presl. ex Thwaites); 11. hoa bổ dọc (Sida subcordata Span.)

1.5.1. Đài phụ (hình 10, ảnh 4)

Đài phụ rời (Hibiscus, Malvaviscus, Gossypium) hay dính lại ở phía dưới thành hình cốc, chén, đĩa (Hibiscus, Decaschistia, Kydia). Lá đài phụ nhiều dạng, có khi hình dải hay kim (Abelmoschus, Abutilon, Sida, Malvastrum,...), hình tim rộng (Gossypium), hay bầu dục (Kydia, Hibiscus), có khi hình mũi giáo (Urena, Hibiscus,...), hình trứng (Abelmoschus), có dạng đầu chẻ 2, phần phụ hình trứng hay trứng rộng (Hibiscus),... Đài phụ đồng trưởng cùng quả phát triển thành cánh (Kydia). Đài phụ phủ lông, ít khi nhẵn, đôi khi trên đài phụ có các nốt sần (Hibiscus) hay điểm tuyến dầu (Gossypium). Một số loài đài phụ mọng nước (Hibiscus). Đài phụ màu xanh, ít khi màu đỏ hay tím (Hibiscus).

Hình 10. Một số hình thái đài phụ và đài của họ Bông

1-7. đài phụ và đài nhìn từ mặt ngoài (1. Malvaviscus arboreus Cav.; 2. Decaschistia intermedia Craib; 3. Thespesia lampas (Cav.) Dalz. & Gibs.; 4. Hibiscus schizopentalus (Dyer) Hook. f.; 5. Decaschistia parvifolia Kurz; 6. Hibiscus mesnyi Pierre ex Laness.; 7. H. indicus (Burm. f.) Hochr.); 8. đài phụ và đài mở (Hibiscus cannabinus L.); 9, 10. đài phụ mở (9. Kydia glabrescens Mast.; 10. Pavonia rigida (Wall. ex Mast.) Hochr.); 11, 12. đài phụ (11. Decaschistia parvifolia Kurz; 12. Urena sinuata L.); 13-17. một lá đài phụ (13. Gossypium arboreum L.; 14. Abelmoschus manihot var. pungens (Roxb.) Hochr.;
15. Hibiscus hispidissimus Griffith; 16. Abelmoschus moschatus Medik.; 17. Malvastrum coromandelianum (L.) Garcke.)

1.5.2. Đài (hình 11, ảnh 4)

Đài ít nhiều hợp ở phía dưới thành hình ống, hình chén (Malva, Abutilon,...), hình đấu (Thespesia), đôi khi có hình mo (Abelmoschus). Mép gần như nguyên (Gossypium, Thespesia) hay có 5 thuỳ nông, thuỳ hình tam giác, hình trứng, hình trứng ngược hay bầu dục thuôn (Urena, Abutilon, Alcea). Một số ít rời nhau (Hibiscus, Pavonia, Urena). Có tiền khai hoa xếp van, có thể sớm rụng (Abelmoschus) hay tồn tại bền với quả (Hibiscus, Thespesia, Sida, Malvastrum, Alcea,...), ít nhiều phủ lông, hiếm khi nhẵn.

Hình 11. Một số hình thái đài của họ Bông

1, 2. đài nhìn từ mặt trong (1. Sida szechuensis Matsuda; 2. Urena sinuata L.); 3-7. đài nhìn từ mặt ngoài (3. Wissadula periplocifolia (L.) Presl ex Thwaites; 4. Thespesia populnea (L.) Soland. ex Correa; 5. Hibiscus rosa-sinensis L.; 6. Sida rhombifolia L.; 7. Pavonia repanda (Roxb.) Spreng.); 8-15. đài mở (8. Pavonia rigida (Wall. ex Mast.) Hochr.; 9. Wissadula periplocifolia (L.) Presl ex Thwaites; 10. Abutilon crispum (L.) Medik.; 11. Sida cordata (Burm. f.) Borss.; 12. Urena sinuata L.;13. Kydia calycina Roxb.; 14. K. glabrescens Mast.; 15. Abelmoschus moschatus Medik.)

1.5.3. Cánh hoa (hình 12, ảnh 5)

Cánh hoa có 5 cánh rời (Hibiscus, Abutilon, Cenocentrum, Sida,...), một số đại diện có cánh hoa dính một phần nhỏ ở gốc và dính với ống chỉ nhị (Hibiscus). Cánh hoa có kích thước lớn, chiều dài tới trên 10 cm (Hibiscus, Abelmoschus, Alcea) hay dưới 1,5 cm (Malvastrum, Abutilon, Sida, Kydia). Cánh hoa hình trứng ngược, trứng ngược thuôn dài hay hình bầu dục (Malvastrum, Urena, Wissadula), hình tam giác ngược hay tam giác ngược lệch (Sida, Malvastrum), nguyên (Hibiscus, Gossypium, Sida, Alcea, Malvaviscus) hay hơi lõm ở đỉnh như tạo sóng (Sida, Malvastrum) hay lõm sâu ở đỉnh tại giữa cánh tạo thành hình tim ngược (Kydia) hoặc xẻ nông (Hibiscus rosa-sinensis) hay xẻ sâu tạo tua rua (Hibiscus schizopentalus), một số đại diện có tai ở gốc (Malvaviscus) hay ở đỉnh (Malvaviscus), một số gốc kéo dài thành hình thìa (Hibiscus), có lông bao phủ ở gốc (Sida, Kydia) hay có lông bao phủ trên toàn bộ cánh hoa (Hibiscus, Urena), hiếm khi nhẵn (Sida).

Hình 12. Một số hình thái cánh hoa của họ Bông

1. cánh hoa hình tim ngược (Kydia calycina Roxb.); 2. cánh hoa hình tam giác ngược (Sida subcordata Span.); 3, 4. cánh hoa hình tam giác ngược lệch (3. Abutilon indicum (L.) Sweet; 4. Sida rhombifolia L.); 5-7. cánh hoa hình trứng ngược (5. Wissadula periplocifolia (L.) Presl ex Thwaites; 6. Malvastrum coromandelianum (L.) Garcke.; 7. Urena lobata L.); 8, 9. cánh hoa có xẻ nông hay sâu (8. Hibiscus rosa-sinensis L.; 9. H. schizopentalus (Dyer) Hook. f.); 10. cánh hoa có tai (Malvaviscus arboreus var. penduliflorus (DC.) Schery); 11. cánh hoa hình thìa (Hibiscus mesnyi Pierre ex Laness.)

1.5.4. Bộ nhị (hình 13, 14; ảnh 6)

Gồm nhiều nhị, vòng nhị ngoài bị tiêu giảm, vòng nhị trong phân nhánh rất nhiều, chỉ nhị dính lại với nhau thành một ống bao xung quanh bầu và vòi nhuỵ (bộ nhị đơn thể) gọi là ống chỉ nhị (Thespesia, Hibiscus, Sida, Malva,...) hay chỉ nhị phía dưới dính lại thành ống, phía trên một vài cái dính lại thành nhiều bó (Kydia, Wissadula), chỉ nhị phần tự do dài (Decaschistia, Abutilon), hay ngắn gần như không (Hibiscus, Malvaviscus,...). Ống chỉ nhị có lông hay nhẵn, đỉnh nguyên hay có răng (Malvaviscus). Bao phấn đính từ gốc đến đỉnh của ống chỉ nhị (Hibiscus, Alcea,...) hay chỉ đính ở phần trên (Urena, Malvaviscus, Sida, Pavonia, Hibiscus). Bao phấn đính gốc hay đính lưng, mở theo đường nứt dọc. Mỗi bao phấn có 1 ô hình thận trong chứa nhiều hạt phấn hình cầu và có gai. Màng hạt phấn có 3 rãnh lỗ, rãnh phân tán hoặc nhiều lỗ.

Hình 13. Một số hình thái bộ nhị và bộ nhuỵ của họ Bông

1-9. ống chỉ nhị ôm bộ nhuỵ (1. Malvaviscus arboreus Cav.; 2. Talipariti tiliaceus (L.) Fryxell; 3. Hibiscus poilanei Gagnep.; 4. H. mesnyi Pierre ex Laness.; 5. Abulion indicum (L.) Sweet; 6. Hibiscus gagnepainii Borss.; 7. Urena sinuata L.; 8. Hibiscus grewiaefolius Hassk.; 9. H. cannabinus L.); 10, 11. ống chỉ nhị ôm bộ nhuỵ bổ dọc (10. Malachra capitata (L.) L.; 11. Sida subcordata Span.); 12-14. ống chỉ nhị (12. Sida szechuensis Matsuda; 13. Wissadula periplocifolia (L.) Presl. ex Thwaites; 14. Sida cordata (Burm. f.) Borss.)

Hình 14. Một số hình thái bao phấn, cách đính bao phấn và hạt phấn của họ Bông

1. bao phấn đính trên ống chỉ nhị (Hibiscus mesnyi Pierre ex Laness.); 2-7. bao phấn (2. Hibiscus grewiaefolius Hassk.; 3, 4. Decaschistia parvifolia Kurz; 5, 6. Hibiscus mesnyi Pierre ex Laness.; 7. Urena lobata L.); 8, 9. bao phấn chín mở (8. Urena lobata L.; 9. Cenocentrum tonkinense Gagnep.); 10, 11. hạt phấn (Gossypium hirsutum L.)

1.5.5. Bộ nhuỵ (hình 15, ảnh 6)

Bầu trên, bầu có nhiều hình thái như hình cầu (Hibiscus, Thespesia, Malvaviscus) hay cầu dẹp (Malva, Malvastrum,...), hình cầu cụt đầu (thớt cối xay) (Abutilon), hình bầu dục (Hibiscus), hình thuôn dài (Abelmoschus),... gồm có từ 3-nhiều lá noãn, rời (Malva, Abutilon, Malachra, Alcea, Urena) hay dính lại (Hibiscus, Gossypium, Thespesia), trong mỗi lá noãn có 1 noãn (Sida, Malvastrum, Malva,...) hay nhiều noãn (Abelmoschus, Abutilon, Gossypium,...), với lối đính noãn trung trụ, các noãn đính trong lá noãn hướng từ dưới lên (Malva, Alcea) hay từ trên xuống (Sida) hay ngang (Abelmoschus). Vòi nhuỵ phân nhánh với số nhánh vòi nhuỵ bằng số lượng lá noãn (Malva, Alcea, Sida, Malvastrum, Hibiscus,...) hay gấp đôi số lượng lá noãn (Urena, Pavonia, Malvaviscus,...), nhánh vòi nhuỵ có lông (Urena, Hibiscus, Cenocentrum), ít khi không (Sida), hiếm khi vòi nhụy phân thùy (Kydia) hay vòi nhụy gần nguyên (Thespesia, Gossypium). Núm nhuỵ hình đầu (Hibiscus, Cenocentrum, Urena) hay hình đầu lệch gần tạo thành hình đĩa (Abelmoschus) hoặc hình dải hay thuôn dài (Malva, Alcea), hiếm khi thấy hình chùy (Thespesia, Gossypium), có lông tuyến dính (Urena, Hibiscus).

Hình 15. Một số hình thái bộ nhụy của họ Bông

1-9. bộ nhụy (1. Sida cordifolia L.; 2. Malachra capitata (L.) L.; 3. Sida szechuensis Matsuda; 4. Kydia calycina Roxb.; 5. Decaschistia intermedia Craib; 6. Hibiscus schizopentalus (Dyer) Hook. f.; 7. Abutilon indicum (L.) Sweet.; 8. Wissadula periplocifolia (L.) Presl ex Thwaites; 9. Abelmoschus manihot var. pungens (Roxb.) Hochr.); 10-12. nhánh vòi nhụy (10. Urena lobata L.; 11. Cenocentrum tonkinense Gagnep.; 12. Decaschistia crotonifolia Wight & Arn.); 13-17. núm nhụy (13. Hibiscus schizopentalus (Dyer) Hook. f.; 14. Urena lobata L.; 15. Sida cordifolia L.; 16. Alcea rosea L.; 17. Thespesia lampas (Cav.) Dalz. & Gibs.)

1.6. QUẢ (hình 16 - 18, ảnh 7)

Quả tự mở dạng quả nang, khi chín mở bằng van thành nhiều mảnh quả (Talipariti, Hibiscus, Gosypium, Cenocentrum, Abelmoschus, Decaschistia,...) hay quả không tự mở dạng quả liệt, khi chín hình thành các phân quả không mở (Abutilon, Malva, Sida, Malvastrum,...) ít khi là quả mọng (Malvaviscus). Quả hình cầu (Malvaviscus, Urena, Hibiscus, Decaschistia,...), hình cầu dẹp hay hình đĩa (Sida, Alcea, Malvastrum, Urena,...), hình thớt cối xay (Abutilon), hình trứng (Gossypium, Thespesia, Hibiscus), hình thoi (Abelmoschus), ít khi thuôn dài (Abelmoschus).

Hình 16. Một số hình thái quả của họ Bông

1-4. quả nang chưa mở (1. Gossypium hirsutum L.; 2. Thespesia populnea (L.) Soland. ex Correa; 3. T. lampas (Cav.) Dals. & Gibs.; 4. Decaschistia intermedia Craib); 5-13. quả nang mở (5. Abelmoschus moschatus Medik.; 6. Hibiscus hispidissimus Griffith; 7. H. surattensis L.; 8. H. cannabinus L.; 9. H. grewiaefolius Hassk.; 10. Abelmoschus crinitus Wall.; 11. Cenocentrum tonkinense Gagnep.; 12. Gossypium hirsutum L.; 13. Abelmoschus esculentus (L.) Moench.); 14-23. quả liệt (14, 15. Abutilon indicum (L.) Sweet; 16. Malvastrum coromandelianum (L.) Garcke.; 17. Malachra capitata (L.) L.; 18. Urena sinuata L.; 19. Sida acuta Burm. f.; 20. Sida parvifolia DC.; 21. S. mysorensis Wight & Arn.; 22. S. subcordata Span.; 23. Kydia calycina Roxb.); 24. quả mọng (Malvaviscus arboreus Cav.)

Hình 17. Một số cách đính noãn, trục quả và mảnh quả của họ Bông

1, 2. noãn đính hướng lên trong lá noãn (1. Hibiscus mesnyi Pierre ex Laness.; 2. Alcea rosea L.); 3. noãn đính hướng xuống trong lá noãn (Sida rhombifolia L.); 4. noãn đính ngang trong lá noãn (Abelmoschus moschatus Medik.); 5-9. bầu cắt ngang (5. Thespesia lampas (Cav.) Dalz. & Gibs.; 6. Abelmoschus crinitus Wall.; 7. Urena lobata L.; 8. Abutilon indicum (L.) Sweet; 9. Malvastrum coromandelianum (L.) Garcke.); 10. trục quả (Malvastrum coromandelianum (L.) Garcke); 11-13. mảnh quả (11, 12. Talipariti macrophyllus (Roxb. ex Hornem.) Fryxell; 13. Hibiscus mesnyi Pierre ex Laness.)

Kích thước quả nhỏ, đường kính dưới 1 cm (Kydia, Sida) hay 1-2 cm (Sida, Urena, Malvastrum) đôi khi lớn hơn 3 cm (Gossypium, Hibiscus, Abelmoschus, Thespesia, Malvaviscus), đôi khi quả dài tới 20(25) cm (Abelmoschus). Mảnh quả hình chữ D. Các phân quả có thể có gai, số lượng gai thay đổi từ 1-3 (Sida, Malvastrum) hay không có gai (Alcea, Malva), có mỏ (Abutilon, Wissadula), có sừng (Sida), có rãnh ngang (Wissadula) hay có vân (Sida). Trục quả hình trụ (Malva) hay hình trụ đỉnh loe rộng (Abutilon) hay hình đĩa (Alcea, Malvastrum) hay quả có cánh (Kydia). Quả có lông, đôi khi có lông móc nên rất dễ phát tán (Urena), hiếm khi nhẵn.

Hình 18. Một số hình thái phân quả của họ Bông

1-3. phân quả không có gai (1. Malachra capitata (L.) L.; 2. Pavonia repanda (Roxb.) Spreng.; 3. Alcea rosea L.); 4. phân quả không có gai, không có sừng (Sida cordata (Burm. f.) Borss); 5. phân quả có sừng (S. mysorensis Wight & Arn.); 6, 7. phân quả có lông móc hay thẳng (6. Urena lobata L.; 7. Pavonia rigida (Wall. ex Mast.) Hochr.); 8. Phân quả có mỏ (Abutilon indicum (L.) Sweet); 9-15. phân quả có 2 gai (9, 10. Sida parvifolia DC.; 11. S. acuta Burm. f.; 12, 13. S. cordifolia L.; 14, 15. S. subcordata Span.); 16, 17. phân quả có 2 mỏ và rãnh ngang (Wissadula periplocifolia (L.) Presl ex Thwaites); 18, 19. phân quả có 3 gai (Malvastrum coromandelianum (L.) Garcke.)

1.7. HẠT (hình 19, ảnh 8)

Đa số hạt hình thận (Abelmoschus, Hibiscus, Abutilon,...), hình trứng (Cenocentrum, Gossypium) hay trứng ngược (Thespesia, Gossypium), gần hình tròn (Abutilon) hay hình tam giác (Sida, Wissadula); có lông tơ bao phủ toàn bộ bề mặt (Hibiscus, Sida,...), lông cứng (Hibiscus) hay có một vòng lông ở rốn hạt (Hibiscus, Sida), hiếm khi nhẵn (Abelmoschus), lông ngắn dưới 1 cm (Sida, Hibiscus, Thespesia) hay có khi dài tới trên 5 cm (Gossypium), một số có vân (Kydia, Abelmoschus), có rãnh (Gossypium), rốn hạt rộng, hiếm khi hẹp (Gossypium), phôi thẳng hoặc cong và phần lớn có nội nhũ, đôi khi có dầu (Abelmoschus, Hibiscus, Gossypium, Malva, Abutilon). Lá mầm dẹp chồng lên nhau hay hình vặn xoắn.

Typus: Malva L.

Hình 19. Một số hình thái hạt của họ Bông

1-5. hạt hình thận có vân, nhẵn hay chỉ có lông tơ ở rốn hạt (1. Abelmoschus sagittifolius (Kurz) Merr.; 2. Hibiscus cannabinus L.; 3. Talipariti tiliaceus (L.) Fryxell; 4. Malvastrum coromandelianum (L.) Garcke.; 5. Sida subcordata Span.); 6. hạt hình thận có lông tơ trên khắp bề mặt hạt (Hibiscus gagnepainii Borss); 7-9. hạt hình thận có lông cứng ở trên khắp bề mặt hạt (7. Talipariti macrophyllus (Roxb. ex Hornem.) Fryxell; 8. Hibiscus poilanei Gagnep.; 9. H. mutabilis L.); 10. hạt hình trứng ngược có rãnh, lông tơ dài (Gossypium hirsutum L.); 11. hạt gần hình tròn (Abutilon indicum (L.) Sweet); 12. hạt hình trứng ngược có góc (Thespesia lampas (Cav.) Dalz. & Gibs.); 13. hạt hình trứng ngược có vân (Sida mysorensis Wight. & Arn.); 14. hạt hình tam giác có lông (Wissadula periplocifolia (L.) Presl ex Thwaites)

2. PHÂN BỐ VÀ SINH THÁI

Họ Bông có khoảng 111 chi với khoảng 1800 loài, phân bố từ vùng nhiệt đới đến vùng ôn đới trên khắp thế giới. Việt Nam có 18 chi, với 62 loài, 1 phân loài và 5 thứ, nói chung phân bố trong cả nước, nhưng thích hợp với điều kiện ưa sáng, mọc ở ven rừng, các bãi hoang, ven đường, bờ rào, trồng trong vườn,... một số ít mọc trong rừng nguyên sinh. Một số loài có thể mọc ở độ cao tới 2.000 m.

3. GIÁ TRỊ TÀI NGUYÊN

Trong họ Bông nhiều loài có giá trị sử dụng quan trọng trong đời sống nhân dân (gần 80% tổng số loài). Vai trò lớn nhất của họ Bông là các loài cây cho sợi (có tới 50% tổng số loài) trong đó quan trọng là các loài cho sợi từ lông của hạt để dệt vải, bên cạnh đó còn có nhiều loài cho sợi từ vỏ của thân. Họ Bông có nhiều loài có giá trị làm cảnh vì hoa to, đẹp, nhiều màu sắc, dáng cây đẹp; một số loài làm thuốc (60% tổng số loài); một số loài làm thực phẩm (15% tổng số loài); một số loài cho gỗ (11% tổng số loài); và các loài cho tinh dầu, dầu béo, thức ăn gia súc, làm phẩm màu,...

4. HỆ THỐNG PHÂN LOẠI

Họ Bông (Malvaceae Juss.) nằm trong bộ Bông (Malvales) thuộc ngành Mộc lan (Magnoliophyta) lớp Mộc lan (Magnoliopsida). Đại đa số các tác giả đã coi họ Bông (Malvaceae Juss.) là một taxon bậc họ có quan hệ gần gũi với các họ Trôm (Sterculiaceae), họ Đay (Tiliaceae), họ Gạo (Bombacaceae), họ Côm (Elaeocarpaceae), cùng trong bộ Bông (Malvales).

Trên thế giới, họ Bông đã được nhiều tác giả quan tâm nghiên cứu từ rất sớm. C. Linnaeus (1753) đã mô tả và đặt tên cho một số chi và loài về sau được xếp vào họ Bông. Một số tác giả khác theo quan điểm trên như A. J. Cavanillé (1785), F. C. Medik. (1787),... Năm 1789, A. J. Jussieu (Juss.) chính thức đặt tên cho họ Bông là Malvaceae Juss. với chi chuẩn (typus) là Malva L. và từ đây các taxon thuộc họ Bông mới được sắp xếp theo hệ thống. Về hệ thống phân loại các taxon thuộc họ Bông trên thế giới có nhiều quan điểm khác nhau.

* Quan điểm họ Bông theo nghĩa hẹp (Malvaceae sensu stricto): Họ Bông (Malvaceae Juss.) không bao gồm các taxon thuộc họ Gạo (Bombacaceae), họ Trôm (Sterculiaceae), họ Đay (Tiliaceae). Trong quan điểm này có 2 cách phân chia họ Bông:

_ Chia họ Bông (Malvaceae) ra thành các tông (Trib.), các phân tông (Subtrib.)

G. Bentham & J. D. Hooker (1862) có thể được coi là những người đầu tiên đặt nền móng cho cách phân chia họ Bông thành các tông, các phân tông. Theo đó họ Bông (Malvaceae) gồm 4 tông (Trib.): Malveae, Ureneae, HibisceaeBombaceae, trong đó tông Malveae gồm 4 phân tông (Subtrib.): Malopeae, Eumalveae, Abutilieae, Sideae; tông Bombaceae gồm 4 phân tông: Adansonieae, Mastisieae, Fremontieae, Durioneae. Tông Bombaceae sau này đã được tách ra và nâng lên thành họ Gạo (Bombacaceae).

K. Schumann (1895) chia họ Malvaceae ra thành 4 tông: Malopeae, Malveae, Ureneae, Hibisceae. Tông Malveae chia thành 3 phân tông: Malvinae, Abutilinae, Sidinae. Hệ thống này đã công nhận sự độc lập của họ Bombacaceae mà nền tảng chính là tông Bombaceae.

H. L. Edlin (1935) đã tách tông Hibisceae và tông Kydieae ra khỏi họ Bông để xếp chung vào họ Gạo (Bombacaceae). Như vậy, họ Bông (Malvaceae) được chia thành 3 tông là Malopeae, Malveae Ureneae. Trong đó, tông Malveae được chia nhỏ thành 3 phân tông là Malvinae, Abutilinae, Sidinae.

W. Schultze-Motel (1964) chia họ Malvaceae ra thành 4 tông là Malopeae, Malveae, Ureneae, Hibisceae. Tông Malveae có 4 phân tông: Malvinae, Coryabutilinae, Abutilinae, Sidinae.

W. Schultze-Motel đã không để tông Hibisceae trong họ Gạo (Bombacaceae) mà vẫn để trong họ Bông.

P. A. Fryxell (1988) đưa ra hệ thống phân loại họ Malvaceae với 4 tông: Malveae, Malvavisceae, Hibisceae, Gossypieae. Tông Malveae được chia nhỏ thành 6 phân tông: Malopeae, Alceae, Malvastreae, Abutileae, Sideae Plagiantheae. (bảng 1).

Quan điểm phân chia họ Bông (Malvaceae) thành các tông rồi chia tiếp thành các phân tông được một số nhà khoa học tán thành và sử dụng trong các công trình nghiên cứu phân loại họ Bông sau này.

_ Chia họ Bông (Malvaceae) thành các tông (Trib.) rồi chia trực tiếp đến các chi (Gen.)

A. Takhtajan (1981) đưa ra hệ thống gồm 5 tông là Malopeae, Malveae, Ureneae, Hibisceae, Gossypieae. Đến năm 1987, 1997, đưa ra một hệ thống khác cũng gồm 5 tông nhưng tông Malveae được tách ra thành 2 tông là Malveae Abutileae, tông Hibisceae Gossypieae hợp thành tông Hibisceae.

D. J. Mabberley (1987) đã đưa ra quan điểm hệ thống gồm 5 tông là Malveae, Ureneae, Hibisceae, Gossypieae, Decaschistieae.

V. H. Heywood (1993) chia họ Malvaceae thành 5 tông là Malopeae, Malveae, Abutileae, Ureneae, Hibisceae, giống như quan điểm của A. Takhtajan 1987, 1997. (bảng 2).

Ngày nay tông Bombaceae đã được tách ra thành một họ riêng (họ Gạo - Bombacaceae).

Theo K. Schumann (1895), H. L. Edlin (1935), W. Schultze-Motel (1964) thì tông Malveae đã được tách ra thành 2 tông là Malopeae và tông Malveae. Thực chất đây là sự nâng cấp phân tông Malopinae của G. Bentham & J. D. Hooker lên thành tông Malopeae. Quan điểm nâng tông này cũng giống như quan điểm của một số tác giả khác như
A. Takhtajan (1981, 1987, 1997), V. H. Heywood (1993). Ngoài ra, theo A. Takhtajan (1981), F. A. Fryxell (1988) có sự chia nhỏ tông Hibisceae thành 2 tông HibisceaeGossypieae, hay sự chia nhỏ nữa được thấy ở hệ thống của Mabberley khi chia tông Hibisceae thành 3 tông là Hibisceae, GossypieaeDecaschistieae nhưng việc chia nhỏ này hầu như không được các tác giả nghiên cứu về sau đồng ý. Có thể thấy rõ điều này ở quan điểm của một số tác giả như A. Takhtajan (1987, 1997) và V. H. Heywood (1993) khi thống nhất việc hợp các tông trên thành một tông duy nhất là Hibisceae.

* Quan điểm coi họ Bông (Malvaceae) theo nghĩa rộng (Malvaceae sensu lato): họ Bông (Malvaceae Juss.) là một phân họ Malvoideae trong họ Bông (Malvaceae sensu lato) với sự có mặt của họ Đay (Tiliaceae), họ Trôm (Sterculiaceae), họ Gạo (Bombacaceae).

C. Bayer & al. (1998), đã đưa ra quan điểm họ Bông theo nghĩa rộng (Malvaceae sensu lato) bao gồm 9 phân họ là Malvoideae, Bombacoideae, Sterculioideae, Tilioideae, Dombeyoideae, Brownlowoideae, Helicteroideae, Grewioideae, Byttnerioideae. Ở đây thực chất họ Bông (Malvaceae Juss.) được coi là một phân họ Malvoideae. Thorne (2000), đưa ra quan điểm họ Malvaceae theo nghĩa rộng bao gồm các họ Malvaceae Juss., Bombacaceae và một phần của TiliaceaeSterculiaceae, phần còn lại của TiliaceaeSterculiaceae được tách ra thành 2 họ độc lập là GrewiaceaeByttneriaceae. S. R. Hinsley (2002-2003, 2004) phân chia họ Bông theo nghĩa rộng (Malvaceae sensu lato) thành 2 nhóm là ByttnerinaMalvatheca và cũng bao gồm 9 phân họ là Malvoideae, Bombacoideae, Sterculioideae, Tilioideae, Dombeyoideae, Brownlowoideae, Helicteroideae, Grewioideae, Byttnerioideae.

C. Bayer & K. Kubizki (2003) phân loại họ Bông (Malvaceae incl. Tiliaceae, Sterculiaceae, Bombacaceae) thành 9 phân họ Malvoideae, Bombacoideae, Sterculioideae, Tilioideae, Dombeyoideae, Brownlowoideae, Helicteroideae, Grewioideae, Byttnerioideae, một phần của họ Tiliaceae được tách ra thành một họ riêng mang tên Muntingiaceae, họ Bông (Malvaceae Juss.) được coi là một phân họ Malvoideae. (bảng 3).

Quan điểm Malvaceae sensu lato được một số tác giả chấp nhận. Tuy nhiên, trong một số công trình mới đây, các nhà hệ thống học thực vật lại cho rằng cần thiết vẫn phải giữ hai quan điểm coi taxon bậc họ Malvaceae dưới 2 hình thức Malvaceae sensu lato và Malvaceae sensu stricto.

Ở một số nước lân cận với Việt Nam, cũng có một số công trình nghiên cứu họ Bông (Malvaceae Juss.). M. T. Masters (1875) nghiên cứu hệ thực vật của vùng Ấn Độ, W. J. van Borss (1966-1967) nghiên cứu hệ thực vật Malaixia, C. A. Backer & R. C. Bakhuizen (1965) nghiên cứu họ Malvaceae ở Java (Inđônêxia), K. M. Feng (1984) nghiên cứu họ Bông ở Trung Quốc, C. E. Chang (1993) nghiên cứu họ Bông ở Đài Loan,...

Ở Việt Nam, J. Loureiro (1790), là người đầu tiên mô tả các taxon của họ Bông ở miền Nam Việt Nam. Pierre (1888), khi nghiên cứu về thực vật rừng ở Nam bộ, đã mô tả các taxon thuộc họ Bông (Malvaceae) bao gồm cả các đại diện thuộc họ Trôm (Sterculiaceae) và họ Gạo (Bombacaceae). F. Gagnepain (1910), khi nghiên cứu họ Bông ở Đông Dương, đã chia các taxon của họ Bông trực tiếp đến chi. Tác giả đã lập khoá định loại và mô tả 14 chi với 76 loài có ở Đông Dương và Thái Lan trong đó Việt Nam được ghi nhận có 11 chi, 43 loài. Trong công trình này tác giả đã theo quan điểm của G. Bentham & J. D. Hooker (1862), coi họ Bông (Malvaceae) là một taxon bậc họ trong đó bao gồm cả các taxon hiện nay thuộc họ Gạo (Bombacaceae). Lê Khả Kế (1971) đã lập khoá định loại cho 7 chi và mô tả 8 loài.

Công trình của người Việt Nam đáng lưu ý nhất là của Phạm Hoàng Hộ (1970, 1991, 1999). Tác giả đã phân chia họ Bông (Malvaceae) trực tiếp đến chi, trong đó các chi thuộc họ Gạo (Bombacaceae) đã được tác giả tách ra thành một họ riêng. Năm 1991, tác giả đã lập khoá định loại cho 17 chi, mô tả 57 loài, 2 phân loài, 7 thứ thuộc họ Bông ở Việt Nam. Trong lần tái bản năm 1999, tác giả đã bổ sung thêm 1 chi, 2 loài đưa tổng số loài lên tới 59 loài, 2 phân loài, 7 thứ. Ngoài ra còn có các công trình của Trần Đình Lý (1984), Nguyễn Tiến Bân (1997), Nguyễn Tiến Bân và Đỗ Thị Xuyến (2003) ghi nhận họ Bông ở Việt Nam có 18 chi với 65 loài, Đỗ Thị Xuyến (2005, 2006) đã công bố một số taxon thuộc họ Bông bổ sung cho hệ thực vật Việt Nam. Bên cạnh đó, còn có một số ít các công trình khác đề cập đến giá trị sử dụng của một vài loài cây trong họ Bông như Võ Văn Chi (1997), Đỗ Huy Bích và cộng sự (2004). (bảng 4).

5. LỰA CHỌN HỆ THỐNG PHÂN LOẠI HỌ BÔNG (MALVACEAE Juss.) Ở VIỆT NAM

Sau khi phân tích và so sánh các hệ thống phân loại họ Bông (Malvaceae), chúng tôi nhận thấy hệ thống của A. Takhtajan (1987) đã hội tụ được một số quan điểm chính:

  • Xác định tông Malopeae, Abutileae, Ureneae là tông độc lập.
  • Giữ nguyên tông Hibisceae trong Malvaceae.
  • Chuyển chi Malvastrum từ tông Malveae sang tông Abutileae.
  • Tách họ Gạo (Bombacaceae) thành một họ độc lập.

Mặt khác, do việc phân chia và sắp xếp các taxon dưới họ khá hợp lý nên hệ thống này được nhiều tác giả công nhận và sử dụng để nghiên cứu họ Bông trong các khu vực. Bên cạnh đó, khi nghiên cứu các đại diện thuộc họ Bông ở Việt Nam, chúng tôi thấy các đặc điểm phân loại phù hợp với hệ thống của A. Takhtajan (1987) cho nên chúng tôi đã lựa chọn hệ thống này làm cơ sở cho việc sắp xếp các taxon của họ Bông (Malvaceae) ở Việt Nam.

Trên cơ sở hệ thống phân loại của A. Takhtajan (1987) và căn cứ vào sự có mặt của các taxon thuộc họ Bông (Malvaceae) ở Việt Nam, hệ thống phân loại họ Bông ở Việt Nam được sắp xếp như sau (bảng 5):


KHOÁ ĐỊNH LOẠI CÁC CHI THUỘC HỌ MALVACEAE Juss. Ở VIỆT NAM

1A. Quả liệt hay quả mọng; quả liệt khi chín các phân quả tách khỏi đế hoa và trục quả, không nhìn thấy hạt. Bầu do một số lá noãn rời tạo thành. Nhánh vòi nhuỵ bằng hay gấp hai lần số lượng lá noãn.  
2A. Bao phấn đính trên ống chỉ nhị từ gốc đến đỉnh hay ở đỉnh, phần không bao giờ thò ra ngoài cánh hoa. Nhánh vòi nhuỵ có số lượng bằng số lượng lá noãn. Ống chỉ nhị không có răng.  
3A. Núm nhụy hình dải hay thuôn dài. Lá noãn luôn 10 trở lên. (Trib. 1. Malveae)
4A. Đài phụ hình đấu, 6-8 thùy. Cánh hoa hình trứng ngược, đỉnh tròn. Lá noãn 25 hay hơn. Trục quả hình đĩa.  1. ALCEA
4B. Đài phụ 3, rời nhau. Cánh hoa hình tim ngược, tam giác ngược đỉnh hơi lõm hay có sóng. Lá noãn 10-18. Trục quả hình trụ tròn. 2. MALVA
3B. Núm nhụy hình đầu. Lá noãn dưới 10, hiếm khi 10 trở lên. (Trib. 2. Abutileae)
5A. Phân quả có 3 gai. Trục quả hình đĩa. 3. MALVASTRUM
5B. Phân quả có 2 gai, 2 mỏ, 2 sừng hay hiếm khi không có gai. Trục quả hình trụ hay không có.  
6A. Cây cỏ, nửa bụi hay bụi. Hoa lưỡng tính. Không có đài phụ.  
7A.  Mỗi lá noãn có 2-3(4) noãn.  
8A. Chỉ nhị dính lại với nhau thành một ống. Lá noãn 10 hay hơn. 4. ABUTILON
8B. Chỉ nhị dính lại với nhau thành ống ở phía dưới, phía trên dính thành 5 bó. Lá noãn 5.  5. WISSADULA
7B. Mỗi lá noãn có 1 noãn. 6. SIDA
6B. Cây gỗ. Hoa đơn tính cùng gốc. Có đài phụ.  7. KYDIA
2B. Bao phấn chỉ đính ở phía trên của ống chỉ nhị phần thò ra ngoài cánh hoa. Nhánh vòi nhụy gấp 2 lần số lượng lá noãn. Ống chỉ nhị có 5 răng ở đỉnh. (Trib. 3. Ureneae)
9A. Cụm hoa hình đầu. Có lá hoa. Không có đài phụ. 8. MALACHRA
9B. Hoa mọc đơn độc ở nách lá, hiếm khi thấy cụm hoa hình chùm hay hình đầu giả ở nách lá hay đỉnh cành. Không có lá hoa. Có đài phụ tồn tại.  
10A. Cỏ hay cây nửa bụi. Đài phụ 5. Đài rời nhau. Cánh hoa khi nở xoè ra. Quả liệt, có lông.  
11A. Quả có lông nhưng không bao giờ có lông móc. Hoa mọc đơn độc ở nách lá hay cụm hoa hình đầu giả ở đỉnh cành. Ống chỉ nhị nhẵn. 9. PAVONIA
11B. Quả có nhiều lông móc dài và cứng. Hoa mọc đơn độc hay cụm hoa hình chùm ở nách lá hay đỉnh cành. Ống chỉ nhị có lông. 10. URENA
10B. Cây bụi. Đài phụ 7-12. Đài dính ở dưới thành hình chuông. Cánh hoa khi nở không xoè ra. Quả mọng, nhẵn. 11. MALVAVISCUS
1B. Quả nang, khi chín tự tách thành các mảnh quả và nhìn thấy hạt. Bầu do một số lá noãn dính tạo thành. Nhánh vòi nhuỵ có số lượng bằng số lượng lá noãn. (Trib. 4. Hibisceae)
12A. Đài phụ 5-15. Hạt hình thận, một số ít hình tròn.  
13A. Bầu 5 lá noãn. Vòi nhuỵ phân 5 nhánh. Mỗi lá noãn 2 - nhiều noãn. Noãn đính ngang hay hướng xuống dưới.  
14A. Đài hình mo, sau khi hoa nở 1 bên xẻ ra, ở đỉnh có 5 răng rất nhỏ không đều nhau và rụng sớm. Quả hình trứng, bầu dục, thuôn dài hay hình thoi. Hạt nhẵn, có vân 12. ABELMOSCHUS
14B. Đài hình cốc hay chén, ở đỉnh có 5 thuỳ đều hay 5 răng lớn, tồn tại. Quả hình cầu, hiếm khi hình trứng ngược hay hình nón. Hạt có lông hay có nốt sần sùi dạng tuyến.  
15A. Lá kèm thường nhỏ, kích thước chiều dài chưa đến 2,5 cm và chiều rộng không đến 1,2 cm; lá thường không có các tuyến ở trên gân gốc ở mặt dưới; Quả nang, 5 ô 13. HIBISCUS
15B. Lá kèm thường lớn, kích thước chiều dài hơn 2,5 cm và chiều rộng hơn 1,2 cm; lá thường có các tuyến ở trên gân gốc ở mặt dưới; Quả nang, có vách ngăn giả nên tạo thành 10 ô giả. 14. TALIPARITI
13B. Bầu 6-10 lá noãn. Vòi nhuỵ phân 6-10 nhánh. Mỗi lá noãn 1 noãn. Noãn đính hướng lên trên.  15. DECASCHISTIA
12B. Đài phụ 3-5. Hạt hình trứng, hình trứng ngược, có cạnh, ít khi gần hình thận.  
16A. Đài phụ 4. Bầu 10 lá noãn. Vòi nhuỵ phân 10 nhánh. Núm nhụy hình đầu. Hạt hình trứng hay gần hình thận, không có lông, có điểm tuyến mờ. 16. CENOCENTRUM
16B. Đài phụ 3 hay 5. Bầu 3-5 lá noãn. Vòi nhuỵ gần như nguyên, hơi có gờ. Núm nhụy hình chùy. Hạt hình trứng ngược có cạnh có lông nhung hay lông sợi, một số ít không có lông trừ rốn hạt.  
17A. Cỏ hay cây nửa bụi. Lá phân hay xẻ 3-5(7) thùy chân vịt. Đài phụ 3, phần lớn hình tim rộng, tồn tại. Bầu và quả có điểm tuyến dầu. Hạt có lông dài. 17. GOSSYPIUM
17B. Cây bụi hay cây gỗ nhỏ. Lá nguyên hay có 2-3 thuỳ nông. Đài phụ 3-5 nhỏ hẹp, hình mũi giáo, sớm rụng. Bầu và quả không có điểm tuyến dầu. Hạt có lông ngắn 18. THESPESIA

Sách Thực vật chí khác
TẬP 21 - THỰC VẬT CHÍ VIỆT NAM - FLORA OF VIETNAM: HỌ GỪNG – ZINGIBERACEAE Lindl.
Tác giả: Nguyễn Quốc Bình
TẬP 20 - THỰC VẬT CHÍ VIỆT NAM - FLORA OF VIETNAM: HỌ LONG NÃO - LAURACEAE Juss
Tác giả: Nguyễn Kim Đào
TẬP 15 - THỰC VẬT CHÍ VIỆT NAM - FLORA OF VIETNAM: HỌ THIÊN LÝ – ASCLEPIADACEAE R. Br.
Tác giả: Trần Thế Bách
Tập 13 - THỰC VẬT CHÍ VIỆT NAM - FLORA OF VIETNAM: HỌ CAU – ARECACEAE Schultz-Sch.
Tác giả: Andrew Henderson, Trần Thị Phương Anh
TẬP 18 - THỰC VẬT CHÍ VIỆT NAM - FLORA OF VIETNAM: HỌ TAI VOI - GESNERIACEAE Dumort.
Tác giả: Vũ Xuân Phương
TẬP 19 - THỰC VẬT CHÍ VIỆT NAM - FLORA OF VIETNAM: HỌ CHÈ - THEACEAE D. Don
Tác giả: Nguyễn Hữu Hiến
TẬP 17 - THỰC VẬT CHÍ VIỆT NAM - FLORA OF VIETNAM: 2. HỌ MÃ TIỀN - LOGANIACEAE R.Br.ex Mart
Tác giả: Vũ Văn Hợp, Vũ Xuân Phương
TẬP 17 - THỰC VẬT CHÍ VIỆT NAM - FLORA OF VIETNAM: 1.HỌ CÀ - SOLANACEAE Juss.
Tác giả: Vũ Văn Hợp
TẬP 16 - THỰC VẬT CHÍ VIỆT NAM - FLORA OF VIETNAM: HỌ RÁY - ARACEAE Juss.
Tác giả: Nguyễn Văn Dư
TẬP 14 - THỰC VẬT CHÍ VIỆT NAM - FLORA OF VIETNAM: HỌ BÔNG - MALVACEAE Juss.
Tác giả: Đỗ Thị Xuyến
Tập 12 - THỰC VẬT CHÍ VIỆT NAM - FLORA OF VIETNAM: HỌ BỒ HÒN - SAPINDACEAE Juss.
Tác giả: Hà Minh Tâm