Tên Sách:

TẬP 16 - THỰC VẬT CHÍ VIỆT NAM - FLORA OF VIETNAM: HỌ RÁY - ARACEAE Juss.

ARACEAE Juss. 1789 - HỌ RÁY
(4 phân họ, 14 tông, 24 chi, 138 loài, 3 thứ, 1 dạng)

MỞ ĐẦU

Họ Ráy (Araceae Juss.) có khoảng 106 chi với hơn 2823 loài, phân bố ở tất cả các châu lục, chủ yếu ở châu Á và Nam Mỹ, thích hợp với điều kiện nhiệt đới ẩm. Việt Nam có 24 chi với 138 loài, 3 thứ và 1 dạng, phân bố rộng rãi từ Bắc vào Nam, từ vùng biển tới vùng núi cao. Giá trị tài nguyên của họ Ráy khá quan trọng cả về mặt ý nghĩa khoa học lẫn giá trị sử dụng trong đời sống nhân dân.

Các công trình nghiên cứu về hệ thống phân loại họ Ráy được bắt đầu từ rất sớm. Người đầu tiên là A. L. Jussieu (1789). Tiếp theo là H. W. Schott (1860), A. Engler (1976-1920), A. Engler & K. Krause (1908, 1920),... Vùng châu Á và lân cận nước ta có công trình của J. D. Hooker (1893), M. Sivadasan (1982), M. Hotta (1970), S. Y. Hu (1968), Li Heng (1987-1992), D. Sriboonma (1994), P. C. Boyce (1996, 1998, 1999), W. L. A. Hetterscheid (1994), G. Gusman (1998),...

Có 2 quan điểm hệ thống phân loại họ Ráy: Chia thành các tông (Trib.) là H. W. Schott (1860), J. D. Hooker (1883), J. Hutchinson (1959); Chia thành phân họ là A. Engler (1879, 1920), M. H. Grayum (1991), J. Bogner & D. H. Nicolson (1991), A. Takhtajan (1996), S. J. Mayo & al. (1997), H. Li & al. (2010),...

Ở Việt Nam, lần đầu tiên nghiên cứu họ Ráy là J. Loureiro (1790). Tiếp theo là N. E. Brown (1882), A. Engler & K. Krause (1911-1920). Nhưng chỉ có công trình của F. Gagnepain (1942) là tương đối đầy đủ và hệ thống, mặc dù còn thiếu sót. Những năm gần đây có các công trình của Phạm Hoàng Hộ (1972, 1993, 2000), Lê Khả Kế & cs. (1975), Nguyễn Văn Dư (2005, 2006), Nguyễn Văn Dư & cs. (1997-2007),... Một số công trình về giá trị sử dụng họ Ráy như Đỗ Tất Lợi (1995), Võ Văn Chi (1997, 2012), Đỗ Huy Bích & cs. (1993),...

Thực vật chí Việt Nam, tập 16 - họ Ráy (Araceae Juss.) là công trình phân loại đầy đủ và hệ thống, được biên soạn trên cơ sở hàng chục năm nghiên cứu. Việc điều tra thu thập mẫu vật và tư liệu được tiến hành trên khắp lãnh thổ Việt Nam, đặc biệt chú trọng các vùng địa lý thích hợp cho sự phân bố của các taxon họ Ráy. Đồng thời đã nghiên cứu mẫu vật, kể cả một số mẫu chuẩn (typus) và tư liệu ở các phòng tiêu bản trong nước như Viện Sinh thái & Tài nguyên sinh vật (HN), Trường Đại học Khoa học Tự nhiên (ĐHQG Hà Nội) (HNU), Viện Dược liệu (HNIP), VQG Cúc Phương (CPNP), Viện Sinh học nhiệt đới (TP. HCM) (HM),...; cũng như một số phòng tiêu bản trên thế giới như Vườn Thực vật Hoàng gia Anh (Kew, London, K), Bảo tàng Lịch sử tự nhiên Paris (Pháp, P), Hà Lan (Leiden, L), CHLB Đức (Borliu, B), Đan Mạch (Copenhagen, C), Thái Lan (Bangkok, BKF), Hoa Kỳ (Missowri, MO),... Ngoài ra có quan hệ hợp tác quốc tế trao đổi mẫu vật và thông tin liên quan.

Công trình Thực vật chí Việt Nam họ Ráy dày 460 trang, trình bày những nội dung hệ thống phân loại họ Ráy ở Việt Nam, gồm phần đặc điểm hình thái, kiểm kê các hệ thống phân loại và lựa chọn hệ thống cho nghiên cứu họ Ráy ở nước ta. Phần chủ yếu là các khoá định loại taxon; mỗi taxon trình bày danh pháp, synonyms, đặc điểm hình thái phân loại, mẫu chuẩn, sinh học, sinh thái, phân bố trong và ngoài nước, mẫu nghiên cứu, giá trị sử dụng, ghi chú, nhận xét (nếu có). Bên cạnh phần mô tả là 103 hình vẽ và 97 ảnh màu minh họa, các bảng tra tên khoa học và tên Việt Nam, tài liệu tham khảo, sơ đồ các đơn vị hành chính Việt Nam để theo dõi phân bố.

Trong công trình có tham khảo và trích dẫn tư liệu, hình vẽ và ảnh màu của các tác giả khác.

1. ĐẶC ĐIỂM HÌNH THÁI

1.1. KIỂU SINH DƯỠNG: Các loài trong họ Ráy tồn tại với 4 kiểu sinh dưỡng chính là: Địa sinh, phụ sinh trên cây gỗ hoặc trên đá, thuỷ sinh và địa sinh nơi ngập nước.

1.2. DẠNG SỐNG: Dạng sống chủ yếu của họ Ráy là cây thảo. Trong đó có thể chia ra cây leo hoặc trườn trên cây gỗ hay đất hoặc đá là đặc trưng của 2 phân họ Pothoideae và Monsteroideae. Cây thường xanh, thân rễ đứng thẳng một phần hay toàn bộ gặp ở các chi Aglaonema, Alocasia. Cây thân rễ ít nhiều nổi trên mặt đất và thân củ ngầm dưới đất gặp ở các phân họ Lasioideae và đa số các loài thuộc phân họ Ráy (Aroideae). Cây có lá rụng theo mùa như ở các chi Amorphophallus, Pseudodracontium, TyphoniumArisaema.

1.3. THÂN (hình 1): Thân của các loài trong họ Ráy là thân có cấu tạo sơ cấp và chia làm 4 kiểu thân chính là thân leo, thân rễ khí sinh thẳng trên đất, thân rễ ngầm hay nổi trên mặt đất và thân củ. Kiểu thân leo dài gặp ở 2 phân họ Pothoideae, Monsteroideae. Ráy thân rễ thường thấy ở các nhóm Ráy thuộc phân họ Lasioideae và cũng gặp nhiều ở trong phân họ Aroideae. Kiểu thân củ ngầm dưới đất thường thấy ở các nhóm Ráy rụng lá và ở vị trí khá cao trong hệ thống như Amorphophallus, Pseudodracontium, Typhonium, Arisaema.

1.4. RỄ: Theo các phương thức sinh dưỡng, Ráy leo thường có rễ bám và rễ khí sinh. Rễ bám và rễ khí sinh gặp nhiều ở các nhóm Ráy leo. Trong đó, rễ bám thường xếp 2 hàng ở 2 bên thân, ngắn. Rễ khí sinh thường phát sinh ở các đốt thân, rễ này nhiều khi dài tới vài mét chủ yếu làm nhiệm vụ sinh dưỡng cho cây. Ở các loài Ráy có thân rễ nổi trên mặt đất, rễ thường có ở mặt thân tiếp giáp với đất, còn ở các loài Ráy thân củ thì rễ thường ở phía đỉnh của củ. Một vài loài có thân rễ đứng thẳng như ở Alocasia, rễ khí sinh xuất phát từ thân buông thõng xuống và khi tiếp giáp với đất, lại sinh trưởng như rễ bình thường. Những rễ này làm nhiệm vụ sinh dưỡng cho cây là chủ yếu, tác dụng chống đỡ cơ thể của nó rất yếu.

1.5. DẢI TRUYỀN THỂ: Một số loài trong họ Ráy từ thân rễ hay thân củ có các chồi bên phát triển dài ra, nằm ngang trên mặt đất, tận cùng hay dọc theo các chồi này có các truyền thể giống như hành con. Các truyền thể này có thể đứt rời ra và phát triển thành một cây độc lập. Hiện tượng này gặp ở Remusatia, Alocasia, Colocasia, rất ít khi gặp ở Arisaema (A. averyanovii).

Hình 1. Các hình thái thân ở họ Ráy

1, 2. thân leo ở Pothos; 3. thân rễ ở Amorphophallus rhizomatosus; 4. thân bò ở Rhaphidophora; 5. thân khí sinh ở Aglaonema; 6, 7. thân củ ở Amorphophallus

1.6. LÁ (hình 2-4): Trong họ Ráy có 2 kiểu sắp xếp lá, xếp 2 hàng thuộc về các loài họ Ráy trong phân họ Pothoideae và Monsteroideae; xếp xoắn ở tất cả các loài họ Ráy còn lại. Lá Ráy bao gồm lá sinh dưỡng và lá vảy. Lá vảy làm nhiệm vụ bảo vệ và lá sinh dưỡng làm nhiệm vụ sinh dưỡng cho cây. Lá sinh dưỡng có phiến và cuống phân biệt, mang diệp lục, làm nhiệm vụ quang hợp cho cây. Để phân biệt 2 loại lá, chúng tôi dùng từ “lá” để chỉ lá sinh dưỡng và “lá vảy” để chỉ lá không làm nhiệm vụ quang hợp.

Lá ở Ráy có thể rất nhiều trên một cây như các chi Ráy leo, hoặc vài lá đến chỉ còn 1 lá như ở Amorphophallus, Typhonium, Arisaema. Một lá cơ bản bao gồm phiến và cuống. Cuống lá Ráy thường có một phần bẹ; bẹ có thể ngắn như ở Amorphophallus, Pseudodracontium, Typhonium, Arisaema hoặc dài suốt cả chiều dài cuống như ở các loài trong phân họ Monsteroideae. Bẹ có thể tiêu giảm rất sớm và để lại sợi hoặc không như ở phân họ Monsteroideae, hoặc có thể cuộn lại và ôm lấy nhau để tạo thành thân giả như ở Arisaema. Cuống lá thường nhẵn, đôi khi có gai hoặc mụn cơm như ở Cyrtosperma, Lasia, Amorphophallus,... Cuống lá Ráy có thể rất ngắn (Pistia) hoặc dài tới 2 m (Amorphophallus), có thể dẹp dạng cánh (Pothos) hoặc tròn, mọng nước (Amorphophallus) hoặc có thể có khuỷu (Monsteroideae). Phiến lá Ráy rất đa dạng về hình thái và kích thước, thường có bản rộng hơn cuống (trừ Pothos repens), nhẵn, đôi khi có đốm, nguyên, phân thuỳ tới xẻ thuỳ lông chim, xẻ thuỳ chân vịt hay phóng xạ. Các phiến lá nguyên cũng đa dạng về hình dạng, có thể là hình mác, hình bầu dục, hình trứng, hình trứng ngược, hình tên, hình kích hay hình khiên. Ở các lá hình tên, hình kích hay hình khiên, người ta chia thành các thuỳ: thuỳ trước tính từ đỉnh cuống lá lên chóp lá, thuỳ sau tính từ đỉnh chóp lá về phía sau. Đặc biệt ở các chi Amorphophallus, Pseudodracontium và Pycnospatha có kiểu phiến lá dạng “dracontioid”. Cấu trúc của phiến lá này thường xẻ thành 3 thuỳ lớn, mỗi thuỳ lớn lại xẻ lông chim 1 hoặc vài lần thành các thuỳ nhỏ. Phiến lá và thuỳ của phiến lá rất đa dạng, nó có thể là hình đường, hình mác, hình bầu dục, hình trứng, hình khiên, hình tim,... có khi có những lỗ thủng. Gân lá ở họ Ráy nhìn chung là hệ gân hình mạng, ngoài ra một số ít loài trong chi Pothos có hệ gân hình cung, hay một số trong phân họ Monsteroideae có gân con song song với nhau (Rhaphidophora, Epipremnum, Scindapsus, Homalomena,...).

Hình 2. Các hình thái lá cơ bản ở họ Ráy

1. cuống lá; 2. gân bên; 3. tai gốc lá; 4. gân chính tai gốc lá; 5. đỉnh cuống lá; 6. gân chính; 7. gân chung; 8. thuỳ giữa; 9. gân chính của thuỳ bên

Hình 3. Các hình thái phiến lá ở họ Ráy

1. phiến lá nguyên; 2. lá hình khiên; 3. lá hình tên; 4. phiến lá xẻ lông chim; 5. phiến lá xẻ 3 thuỳ; 6. phiến lá xẻ 3 thuỳ, thuỳ bên có thuỳ phụ; 7. phiến lá xẻ 3 thuỳ, thuỳ xẻ lông chim thứ cấp; 8. phiến lá xẻ thuỳ phóng xạ

Hình 4. Các hình thái cuống lá ở họ Ráy

1. cuống lá dẹp dạng cánh; 2. cuống lá có gai; 3. cuống lá có bẹ phát triển; 4. cuống lá có bẹ tạo thành thân giả; 5. cuống lá có bẹ thoái hoá thành sợi; 6. cuống lá không phát triển

1.7. CỤM HOA: (hình 5-9): Ở họ Ráy cụm hoa được gọi là bông mo bao gồm cuống bông mo, mo và cụm hoa bông (hay gọi là bông nạc). Bông mo có thể đơn độc hay không đơn độc trên một cây hay một nhánh mang hoa (ở Ráy leo hay Ráy thân rễ).

_ Cuống bông mo: có thể ngắn hơn mo hoặc dài hơn mo rất nhiều. Trong nhiều trường hợp chúng không khác nhiều so với cuống lá. Thường thẳng, dễ thấy nhưng cũng có khi cong gập xuống hoặc giấu kín trong bẹ lá khó thấy, ngoài bao bởi các lá vảy.

_ Mo: là một phiến dạng lá, rất đa dạng về hình thái, cỡ và màu sắc, thường bao lấy bông nạc hay một phần bông nạc khi còn non để làm nhiệm vụ bảo vệ bông nạc và hấp dẫn côn trùng trong thời kỳ các hoa thụ phấn. Mo của đa số Ráy leo có nhiệm vụ chủ yếu vẫn là bảo vệ bông nạc trong giai đoạn non nên có cấu tạo đơn giản và ít màu sắc. Ở đa số các loài thuộc phân họ Ráy, mo bao gồm 2 phần, phần ống ở dưới bao lấy phần hữu thụ của bông nạc và thường tồn tại cùng với quả, phần phiến ở trên có màu sắc sặc sỡ để hấp dẫn côn trùng và sâu bọ. Phần này thường sớm rụng sau khi hoa đã thụ phấn.

_ Bông nạc: bao gồm một trục nạc trên mang các hoa không cuống hoặc có cuống rất ngắn. Bông nạc có thể có hoặc không có cuống. Trong họ Ráy, tuỳ theo kiểu hoa trên bông nạc mà người ta phân biệt thành bông nạc lưỡng tính và bông nạc đơn tính. Bông nạc lưỡng tính là bông nạc mang cả hai loại hoa đực và cái. Bông nạc đơn tính là bông nạc chỉ mang một loại hoa đực hoặc cái. Bông nạc lưỡng tính bao gồm phần mang hoa cái (gọi tắt là phần cái) thường ở gốc của bông nạc, phần mang hoa đực (gọi tắt là phần đực) thường ở phía trên phần cái. Nhiều loài trong phân họ Ráy có phần mang hoa bất thụ (phần bất thụ) nằm giữa phần đực và phần cái và một phần bất thụ ở tận cùng bông nạc thường rất đa dạng về hình thái và kích thước gọi là phần phụ.

_ Hoa: như trên đã nói, trong họ Ráy có 2 loại hoa, hoa lưỡng tính và hoa đơn tính. Hoa lưỡng tính thường gặp ở các phân họ Pothoideae, Monsteroideae, Lasioideae. Hoa lưỡng tính có thể có bao hoa đầy đủ như ở Potheae, hay bao hoa chỉ còn một vành hẹp dạng chén như ở Anadendreae hoặc không có bao hoa như ở Monsteroideae. Bộ nhị ở hoa lưỡng tính thường có 4-6 nhị, chỉ nhị rõ, thường có dạng bản. Bầu đa số các loài có 1 ô, hiếm khi 2 ô và 3 ô chỉ có ở chi Pothos. Hoa đực đơn tính gặp ở phân họ Aroideae. Hoa cái đơn tính, chỉ đơn giản là bầu do bao hoa và nhị đã tiêu giảm hoàn toàn. Thường 1 ô, vòi nhuỵ có hoặc không, dài hay ngắn. Núm nhuỵ hình đĩa, hình chấm, đôi khi phân thuỳ. Giá noãn của Ráy phân ra giá noãn trụ giữa, giá noãn ở đỉnh (Lasia), giá noãn gốc, giá noãn đỉnh và gốc và giá noãn vách (Rhaphidophora, Homalomena, Colocasia). Sự đính noãn trong các chi của họ Ráy cũng rất khác nhau, noãn có thể đính ở gốc, đính ở giữa giá noãn hoặc đính ở đỉnh của giá noãn trụ giữa hay giá noãn vách.

Hình 5. Các hình thái bông mo cơ bản ở họ Ráy

A. bông mo mang hoa lưỡng tính: 1. cuống bông mo; 2. mo; 3. cuống bông nạc; 4. hoa; 5. bông nạc. B. bông mo mang hoa đơn tính: 1. cuống bông mo; 2. ống mo; 3. phiến mo; 4. chỗ thắt giữa; 5. cuống bông nạc; 6. phần cái; 7. phần đực; 8. phần phụ

Hình 6. Các hình thái bông mo mang hoa lưỡng tính

1-3. bông nạc kéo dài; 4. bông nạc hình trứng; 5. bông nạc hình cầu; 6. bông nạc hình nón

Hình 7. Các hình thái bông mo mang hoa đơn tính

1-3. bông mo có mo thẳng (1. bông mo ở Aglaonema; 2, 3. bông mo và bông nạc ở Homalomena); 4, 5. mo phân biệt ống và phiến (4. bông mo ở Amorphophallus; 5. bông mo ở Arisaema); 6-11. mo có thắt giữa.; (6, 7. bông mo và bông nạc ở Hapaline; 8. bông mo ở Alocasia; 9. bông mo ở Typhonium; 10. bông mo ở Cryptocoryne; 11. bông mo ở Pistia)

Hình 8. Một số hình thái hoa lưỡng tính ở họ Ráy

1-4. hoa ở Pothos: 1. hoa khi non; 2. hoa khi thụ phấn; 3. bầu cắt ngang; 4. bầu bổ dọc 5-9. hoa ở Rhaphidophora: 5, 8. toàn bộ hoa; 6, 9. bầu bổ dọc; 7. bầu cắt ngang

Hình 9. Một số hình thái hoa đơn tính ở họ Ráy

1-4. các hình thái hoa ở Colocasia: 1. hoa đực; 2. bầu; 3, 4. hoa bất thụ. 5, 6. các dạng hoa ở Amorphophallus: 5. hoa đực; 6. bầu; 7. bông mo đơn tính cái ở Arisaema; 8. phần bông nạc mang hoa ở Typhonium; 9. bông mo ở Pistia

_ Quả: thường là quả mọng, khi chín có màu vàng cam hay đỏ như ở Pothos, Amydrium, Aglaonema, Alocasia, Arisaema. Ở một số chi như Homalomena, Alocasia và cả Typhonium do mo có ống mo tồn tại cùng với quả nên quả được bảo vệ rất kỹ trong ống mo và chỉ khi quả chín ống mo tự xé rách để lộ quả tự chín đỏ rất hấp dẫn đối với một số động vật đến ăn và mang hạt đi phát tán. Hạt của Ráy từ 1 đến nhiều hạt trong mỗi quả, vỏ dày hay mỏng, nội nhũ từ ít tới nhiều hoặc không có.

2. SINH HỌC VÀ SINH THÁI

Cây họ Ráy thường tập trung ra hoa vào mùa xuân, nhiều loài có chu trình sống từ mùa xuân tới hết mùa thu, mùa đông củ thường ngủ dưới đất cho tới mùa xuân mới sinh trưởng và phát triển. Hoa của các loài tiến hoá cao trong họ Ráy rất điển hình và chuyên hoá cho lối thụ phấn nhờ sâu bọ, đặc biệt là các loài côn trùng, ruồi, nhặng thích ăn xác động vật. Sự phát tán hạt của họ Ráy là nhờ động vật như chim, thú tới ăn quả và mang hạt đi. Ráy có thể sinh sản bằng hạt hoặc sinh sản sinh dưỡng bằng chồi bên hay bằng các truyền thể.

Điều kiện sinh thái và nơi sống của các cây họ Ráy rất đa dạng. Nhưng đa số các cây họ Ráy thường thích nghi nơi ẩm, ít ánh sáng. Không ít loài có thể thích nghi điều kiện sống ở rừng khô nhiệt đới, nhiều ánh sáng, nhưng có mùa mưa dài. Nhiều loài phân bố ở độ cao rất thấp nhưng cũng có loài phân bố ở độ cao tới vài nghìn mét.

3. GIÁ TRỊ TÀI NGUYÊN 

Họ Ráy là một họ có giá trị kinh tế khá lớn. Nhiều loài trong họ Ráy cho củ ăn được như cây Khoai sọ (Colocasia esculenta). Có tài liệu còn cho rằng Khoai sọ là thức ăn cho tinh bột đầu tiên được con người sử dụng sớm hơn cả Lúa. Một số loài Nưa cho củ chứa tinh bột, trong củ Nưa còn có một lượng chất xơ và đặc biệt có hàm lượng Glucomannan, một loại polychacarid có tác dụng làm giảm đường huyết, mỡ trong máu rất tốt cho các bệnh nhân tiểu đường. Nhiều loài trong họ Ráy có giá trị làm thuốc đã được sử dụng lâu đời trong dân gian như cây Ráy (Alocasia macrorrhizos, A. odora), hay cây Thiên niên kiện (Homalomena), Ráy gai (Lasia spinosa), Bán hạ (Typhonium blumei, T. trilobatum), Nam tinh (Arisaema),... Do có hình thái và màu sắc rất phong phú và đa dạng, lại thích nghi với điều kiện ít ánh sáng, nhiều loài Ráy đã được sử dụng làm cảnh đặc biệt là cây cảnh trong nhà trên khắp thế giới. Cũng do đa dạng về hình thái các loài Ráy là tư liệu sống trong giảng dạy và học tập về đa dạng trong sinh học. Do tính đặc hữu của các loài Ráy ở Việt Nam, họ Ráy ở nước ta cũng chính là nguồn gen quý hiếm cần bảo tồn cho khoa học.

4. HỆ THỐNG PHÂN LOẠI

4.1. CÁC HỆ THỐNG PHÂN LOẠI HỌ RÁY TRÊN THẾ GIỚI

Các hệ thống phân loại họ Ráy từ trước tới nay được xây dựng theo 2 kiểu. Kiểu thứ nhất là các hệ thống phân chia họ Ráy trực tiếp thành các tông. Đó là các hệ thống của W. Schott (1860), J. D. Hooker (1883) và J. Hutchinson (1959). Kiểu thứ 2 là các hệ thống trong đó họ Ráy được phân chia thành các phân họ, tông, phân tông và các chi. Đó là các hệ thống của A. Engler (1876 & 1920), A. Takhtajan (1973 & 1996), M. H. Grayum (1991), J. Bogner & D. H. Nicolson (1991) và S. J. Mayo & al. (1997).

4.1.1. Các hệ thống phân chia họ Ráy thành các tông

Hệ thống phân loại họ Ráy của Schott (1860): Trong hệ thống, họ Ráy bao gồm 107 chi và được coi như là một phân họ. Các chi được Schott sắp xếp trong hai nhóm. Nhóm hoa đơn tính, trần, bông nạc có 2 phần đực và cái tách biệt (Diclines) và nhóm hoa lưỡng tính, có bao hoa, bông nạc không phân biệt các phần đực và cái (Monoclines). Tổng cộng, các chi được sắp xếp trong 12 tông (bảng 1) và dưới là các phân tông. Nhìn vào sự sắp xếp các taxon trong bảng, ta có thể hiểu được rằng Schott đã nhìn nhận sự biểu hiện giới tính, các đặc điểm của các bộ phận cơ quan sinh sản (hoa) như nhị, bao phấn, noãn là các đặc điểm quan trọng nhất để xác định mối quan hệ giữa các taxon và thứ bậc của chúng. Quan điểm của hệ thống là hoa đơn tính có trước hoa lưỡng tính, bởi vậy tông Orontieae được coi là tiến bộ nhất.

Hệ thống phân loại họ Ráy của J. Hooker (1883): Trong hệ thống, họ Ráy được chia ra thành 11 tông, 8 tông đầu là Ráy mang hoa đơn tính, 2 tông còn lại là Ráy mang hoa lưỡng tính (bảng 1). Vị trí của các taxon về cơ bản cũng giống hệ thống của Schott năm 1860. Quan điểm của J. D. Hooker cũng cho là hoa đơn tính có trước hoa lưỡng tính.

Nhìn chung cả 2 hệ thống trên đều có xu hướng tách biệt giữa 2 nhóm Ráy mang hoa lưỡng tính và Ráy mang hoa đơn tính. Tiến bộ hơn so với hệ thống của Schott, trong hệ thống của Hooker, có sự tách biệt giữa các Ráy mang hoa có bao hoa và Ráy mang hoa không có bao hoa. Tuy nhiên, cả hai hệ thống trên đều không phù hợp với quan điểm tiến hoá của các nhà hệ thống học cũng như phân loại học sau này (hoa lưỡng tính có trước hoa đơn tính) nên ít được sử dụng.

Năm 1959, hệ thống phân loại họ Ráy của J. Hutchinson ra đời. Trong hệ thống, họ Ráy được phân chia thành 18 tông, 8 tông đầu là Acoreae, Orontieae, Spathiphylleae, Anthurieae, Dracontieae, Lasieae, Pothoeae Monstereae là các Ráy mang hoa lưỡng tính, bông nạc không có phần phụ, lá hầu hết là lá nguyên; 9 tông còn lại là Stylochitoneae, Richardieae, Dieffenbachieae, Colocasieae, Philodendreae, Spathicarpeae, Pistieae, Pythonieae Areae là các Ráy mang hoa đơn tính, cùng gốc hay khác gốc. Rõ ràng, hệ thống của Hutchinson với quan điểm hoa lưỡng tính có trước hoa đơn tính tiến bộ hơn rất nhiều so với 2 hệ thống trước. Một tiến bộ dễ thấy của hệ thống là việc tách 2 chi Amorphophallus Pseudodracontium ra khỏi nhóm hoa lưỡng tính và xếp chúng trong tông Pythonieae là tông có hoa đơn tính. Dựa trên cấu tạo của bông mo, kết hợp với kiểu sinh dưỡng khác nhau, tông Orontieae được tách thành 7 tông khác nhau là hợp lý hơn. Tuy nhiên thứ tự của các tông này lại được sắp xếp theo chiều hướng tiến hoá từ cây sống ở nước rồi mới xuất hiện các cây ở dạng leo. Sau này, nhiều nhà hệ thống học đã chứng minh rằng có sự trở lại đời sống dưới nước của một số nhóm thực vật. Một điều bất hợp lý của hệ thống là tông Calledeae, là tông có thân rễ lại được đặt giữa 2 tông PotheaeMonstereae hoàn toàn là thân leo, làm hạn chế tính tự nhiên của hệ thống. Tông Pistieae có các bộ phận sinh sản được coi là chuyên hoá nhất lại được đặt trước Pythonieae (bao gồm AmorphophallusPseudodracontium) và Areae. Hệ thống không phân chia họ Ráy thành các bậc phân họ mà lại để các chi trong 2 series làm cho khối lượng ở mỗi nhóm là quá lớn, nhất là sau này rất nhiều các taxon mới được bổ sung. Chính vì những lý do này, mặc dù hệ thống của J. Hutchinson ưu việt hơn rất nhiều 2 hệ thống trước, nhưng lại chỉ được một số ít các nhà phân loại chấp nhận.

4.1.2. Các hệ thống phân chia họ Ráy thành các phân họ

Không chỉ dựa trên các kết quả nghiên cứu các bộ phận sinh sản, mà cả trên các bộ phận sinh dưỡng và các đặc điểm giải phẫu khác, năm 1876, lần đầu tiên A. Engler đã giới thiệu hệ thống phân loại họ Ráy của mình. Trong hệ thống này, họ Ráy được phân chia thành 10 phân họ: Pothoideae, Monsteroideae, Lasioideae, Philodendroideae, Aglaonemoideae, Colocasioideae, Staurostigmoideae, Aroideae, PistioideaeLemnoideae. Theo A. Engler, hoa lưỡng tính có trước hoa đơn tính, hoa có bao hoa có trước hoa không có bao hoa; Ráy thân leo có trước Ráy thân rễ và cuối cùng là Ráy thân củ. Vì vậy, trong hệ thống phân họ Pothoideae với các đặc điểm: hoa lưỡng tính, có bao hoa được đặt ở vị trí nguyên thuỷ nhất, tiếp theo là phân họ Ráy leo khác là Monsteroideae cũng có hoa lưỡng tính nhưng không có bao hoa. Đứng sau Monsteroideae là phân họ Lasioideae có hoa lưỡng tính, không có bao hoa, thân rễ hoặc thân củ. Các phân họ còn lại là Ráy hoa đơn tính, không có bao hoa. Quan điểm của Engler được đông đảo các nhà hệ thống học thực vật đồng tình. Trong hệ thống họ Ráy vẫn bao gồm cả phân họ Lemnoideae gồm 2 tông LemneaeWolffieae, phân họ sau này được tách riêng thành họ Lemnaceae. Riêng chi Pistia được xếp trong một phân họ riêng, phân họ Pistioideae.

Năm 1920, vẫn dựa trên quan điểm bông mo mang hoa lưỡng tính có trước hoa đơn tính, hoa có bao hoa có trước hoa không có bao hoa, A. Engler xây dựng hệ thống phân loại họ Ráy lần thứ 2 (bảng 2). Trong hệ thống, dựa trên sự khác biệt của các đặc điểm cơ quan sinh dưỡng so với Ráy như: cơ thể chỉ là một phiến nhỏ, hầu như không phân biệt giữa thân và lá, hệ rễ cực kỳ tiêu giảm, phân họ Lemnoideae được tách ra khỏi họ Ráy thành một họ riêng Lemnaceae. Phân họ Calloideae được thiết lập từ 2 tông Symplocarpeae Calleae trong phân họ Pothoideae. Phân họ Aglaonemoideae được nhập vào phân họ Philodendroideae. Phân họ Staurostigmoideae bị xoá tên và các thành viên của nó được chuyển tới các phân họ khác. Từ 10 phân họ, lúc này họ Ráy chỉ còn 8 phân họ là các phân họ Pothoideae, Monsteroideae, Calloideae, Lasioideae, Philodendroideae, Colocasioideae, Aroideae, Pistioideae. So với hệ thống trước, ở hệ thống sau vị trí của các chi chỉ có chút ít thay đổi, nhưng nhiều taxon mới đã được bổ sung, nhiều thông tin mới được cập nhật. Hệ thống sau của Engler được đa số các nhà phân loại đi sau sử dụng và trở thành cơ sở cho các nhà hệ thống xây dựng các hệ thống phân loại họ Ráy.

Năm 1964, khi nghiên cứu hệ thống các họ trong lớp Một lá mầm, Hans Melchior đưa nguyên vẹn hệ thống họ Ráy của A. Engler năm 1920 vào cuốn sách của mình. Điều này càng khẳng định thêm giá trị của hệ thống A. Engler (1920).

Trong các hệ thống phân loại họ Ráy năm 1973 &1987 của A. Takhtajan, họ Ráy được chia thành 9 phân họ. Về thứ tự của các phân họ trong họ so với hệ thống của Engler (1920) không có nhiều thay đổi. Tuy nhiên ngay lúc đó, tác giả đã nhận ra sự khác biệt lớn giữa chi Acorus với các chi khác trong họ Ráy. Chính vì vậy tác giả đã đặt chi này trong một phân họ riêng, và là phân họ nguyên thuỷ nhất. Quan điểm của A. Takhtajan sau đó đã được chứng minh khi M. H. Grayum đưa ra các đặc điểm về sự khác biệt giữa Acorus và Araceae. Hiện tại chi Acorus đã được tách thành một họ riêng, họ Acoraceae. Trong hệ thống của A. Takhtajan, bông mo của họ Ráy được chuyên hoá ngày càng cao theo xu hướng từ bông mo mang hoa lưỡng tính, tới bông mo mang hoa đơn tính, và cuối cùng là bông mo đơn tính khác gốc. Khác với A. Engler, A. Takhtajan cho rằng phân họ Pistioideae là phân họ chuyên hoá cao nhất. Một điều đáng tiếc là trong hệ thống, cũng giống như A. Engler, A. Takhtajan vẫn đặt chi AmorphophallusPseudodracontium trong phân họ Lasioideae.

Năm 1991, hệ thống phân loại họ Ráy của Grayum ra đời. Hệ thống của M. H. Grayum có những thay đổi mạnh mẽ về vị trí của các taxon so với hệ thống của A. Engler năm 1920. Trong hệ thống, chi Acorus được tách riêng thành họ Acoraceae. Toàn bộ họ Ráy được phân chia thành 5 phân họ: Pothoideae, Calloideae, Colocasioideae, Lasioideae Aroideae. Dựa trên cấu tạo của bông nạc, Grayum đã phân chia ra các phân họ: Ráy bông nạc không có phần phụ, phần đực và cái liền nhau được tập trung vào phân họ Calloideae, bao gồm cả phân họ Philodendroideae ở hệ thống của Engler; phân họ Colocasioideae phân biệt với các phân họ khác do bông nạc có phần bất thụ giữa phần đực và cái; Phân họ Lasioideae mang hoa đơn tính, có lối sống nửa cạn; cuối cùng là phân họ Aroideae bao gồm tất cả Ráy bông nạc có phần phụ đã bị biến đổi, giữa phần đực và cái là phần bất thụ với các hoa bất thụ đã bị tiêu giảm mạnh và có sự cách biệt lớn về giới tính. Theo cách sắp xếp của M. H. Grayum, phân họ Lasioideae là phân họ có hoa lưỡng tính lại được xếp chung với các phân họ có hoa đơn tính là điều bất hợp lý. Tương tự như vậy, trong phân họ Calloideae, tông Calleae lại được xếp chung với các tông có hoa đơn tính trong phân họ Philodendroideae ở hệ thống A. Engler (1920) được sát nhập vào. Việc sát nhập phân họ Monsteroideae ở hệ thống A. Engler (1920) vào phân họ Pothoideae làm cho quá trình tiến hóa từ hoa có bao hoa tới hoa không có bao hoa không được thể hiện rõ. Rõ ràng, việc tách Acorus thành họ Acoraceae được nhiều nhà hệ thống học cũng như phân loại học đánh giá rất cao, nhưng hệ thống của Grayum đã bộc lộ những yếu điểm như đã nói ở trên nên ít được chấp nhận.

Hệ thống Bogner & Nicolson (1991). Trong hệ thống, 2 tác giả đồng tình với M. H. Grayum tách chi Acorus ra khỏi Pothoideae để thành lập họ Acoraceae. Chi Gymnostachys được tách riêng thành phân họ Gymnostachydoideae và là phân họ nguyên thuỷ nhất của họ Ráy. Các phân họ Monsteroideae, PhilodendroideaePistioideae được khẳng định lại và trả về vị trí cũ của chúng. Trong hệ thống, họ Ráy được chia thành 9 phân họ: Gymnostachydoideae, Pothoideae, Monsteroideae, Calloideae, Lasioideae, Philodendroideae, Colocasioideae, Aroideae, Pistioideae (bảng 2). Ngoài những thay đổi trên, hệ thống mới của J. Bogner & D. H. Nicolson không có nhiều thay đổi so với hệ thống của A. Engler (1920), nhưng nhiều taxon mới đã được bổ sung cho các phân họ.

Năm 1996, A. Takhtajan lại giới thiệu hệ thống mới của mình về họ Ráy. Trong hệ thống mới của A. Takhtajan, chi Acorus cũng được tách thành một họ riêng, hơn thế nữa nó còn coi như là một bộ độc lập, bộ Acorales. Chi Pistia được tách thành họ Pistiaceae. Các chi còn lại của Araceae được sắp xếp trong 8 phân họ, thứ tự của chúng có ít nhiều thay đổi so với hệ thống trước, các phân họ không được chia nhỏ thành các bậc trung gian là các tông và các phân tông, nhưng phân họ Gymnostachydoideae được đặt ở vị trí cuối cùng của hệ thống (bảng 2). Việc sắp xếp như vậy cần được lưu ý vì: thứ nhất phân họ Gymnostachydoideae có cụm hoa mang các hoa lưỡng tính, hạt phấn một rãnh là 2 đặc điểm trước đây được tác giả cho là nguyên thuỷ hơn đặc điểm hoa đơn tính, hạt phấn có nhiều rãnh, nhiều lỗ. Hơn nữa, chính tác giả cũng không giải thích trong công trình của mình tại sao lại xếp phân họ này ở vị trí tiến bộ nhất của họ. Vấn đề này cần có thời gian để có thể tìm hiểu thêm. Trong hệ thống, nhiều chi đã không được thống kê và chỉ rõ vị trí của chúng (64/106). Vì vậy, khi nghiên cứu họ Ráy ở Việt Nam, chúng tôi đã không sử dụng hệ thống của A. Takhtajan (1996) để sắp xếp các taxon.

Năm 1997, S. J. Mayo & al. đề xuất hệ thống mới của họ Ráy. Trong hệ thống của S. J. Mayo & al., các taxon được sắp xếp theo những đặc điểm dị biệt trong những tập hợp không có trong bậc phân loại đó là các “cline”. Cách sắp xếp này giống với cách sắp xếp trong hệ thống của H. W. Schott (1860), J. D. Hooker (1883) và J. Hutchinson (1959). S. J. Mayo và cộng sự đã phân chia họ Ráy thành các tập hợp Ráy nguyên thuỷ và Ráy thật, Ráy có hoa lưỡng tính và Ráy có hoa đơn tính, Ráy hoa có bao hoa và Ráy hoa không có bao hoa,... Quan điểm của hệ thống vẫn là hoa lưỡng tính có trước hoa đơn tính. Trong hệ thống, họ Ráy được chia thành 7 phân họ (bảng 2), trong đó 2 phân họ Gymnostachydoideae, Orontioideae, mang hoa lưỡng tính có bao hoa, nhưng bao phấn mở bằng một rãnh dọc, được coi là nguyên thuỷ hơn các phân họ có hoa lưỡng tính khác. Trong các phân họ có hoa lưỡng tính còn lại, 2 phân họ Pothoideae và Monsteroideae được coi là nguyên thuỷ hơn vì chúng là Ráy thân leo, sống trên cạn, so với 3 phân họ còn lại có đời sống nửa cạn hay thuỷ sinh. Phân họ Pothoideae được đặt trước Monsteroideae vì hoa có bao hoa hoàn chỉnh hơn, bầu 3 ô. Phân họ Lasioideae nguyên thuỷ hơn phân họ Calloideae vì hoa có bao hoa. Tất cả các phân họ có hoa đơn tính được gộp chung trong phân họ Aroideae, phân họ tiến hoá nhất.

Qua sự so sánh giữa các hệ thống, chúng tôi thấy hệ thống của S. J. Mayo & al. (1997) sắp xếp các taxon có hoa lưỡng tính thành một nhóm và các taxon có hoa đơn tính trong một nhóm khác là hợp lý hơn theo cách sắp xếp trước đó. Sự sắp xếp như vậy đã phản ánh sự tiến hoá của các taxon trong họ một cách cụ thể và tự nhiên hơn. Trong hệ thống, nhiều kết quả nghiên cứu về tế bào học, bào tử phấn hoa, hoá học, hiện tượng học,... đã được tham khảo trong việc sắp xếp các nhóm taxon trong mối quan hệ của chúng. Đặc biệt dựa vào phần mềm kỹ thuật số cây phát sinh chủng loại của họ Ráy được thiết lập để thể hiện mối quan hệ gần gũi giữa các chi. Tuy nhiên, hệ thống của Mayo & al. cũng không tránh khỏi những hạn chế của nó. Do dựa vào các đặc điểm về cấu tạo của ống nhựa mủ, và các kết quả nghiên cứu sinh học phân tử, vị trí của một vài taxon trong hệ thống lại được thay đổi một cách mạnh mẽ khác xa vị trí của chúng trong khoá định loại vốn sử dụng đặc điểm hình thái ngoài. Ví dụ tông Colocasieae trước đây (theo hệ thống của A. Engler (1920) và của A. Takhtajan (1973 & 1996) được xếp trong phân họ Colocasioideae đứng trước phân họ Aroideae, trong hệ thống của S. J. Mayo & al. lại được xếp đứng sau rất nhiều taxon thuộc phân họ Aroideae cũ và chỉ đứng trước tông Pistieae. Tông Cryptocoryneae, trong nhiều hệ thống trước đó được cho là tông tiến hoá nhất lại được xếp đứng giữa tông Schismatoglottieae và tông Hapalineae.

Theo các kết quả nghiên cứu sinh học phân tử, gần đây nhiều tác giả lại cho rằng họ Bèo tấm (Lemnaceae) lại có quan hệ “chị em” với tông Pistieae và sát nhập họ này trở lại họ Ráy và trở thành tông Lemnieae (V. H. Heywood, 2007). Tương tự như vậy, từ những kết quả nghiên cứu sinh học phân tử, ở tông Thomsoideae chi Pseudodracontium lại được W. L. A. Hetterscheid sát nhập vào chi Amorphophallus. Qua trao đổi với chính tác giả này, chúng tôi đưa ra những đặc điểm khác biệt về hình thái và khu vực phân bố khác nhau của 2 chi: như là hoa đực ở Pseudodracontium luôn thành nhóm nhưng rời nhau, có chỉ nhị rõ trong khi ở Amorphophallus hoa đực thành nhóm hoặc không, và thường dính chặt với nhau, chỉ nhị không rõ; phần phụ của Pseudodracontium thường hình trụ, mang các hoa bất thụ hoặc lồi lõm, trong khi phần phụ ở Amorphophallus rất biến đổi; Pseudodracontium là chi đặc hữu ở Đông Dương và Thái Lan trong khi Amorphophallus phân bố rộng khắp thế giới trừ châu Âu. Do còn thắc mắc về những điều trên, vẫn theo quan điểm truyền thống chúng tôi tạm thời vẫn để 2 chi này riêng rẽ trong hệ thống. Cũng như vậy, do chưa đầy đủ tư liệu nên trong sự sắp xếp họ Ráy ở Việt Nam, chúng tôi tạm thời chưa đặt họ Bèo tấm (Lemnaceae) vào trong họ Ráy.

4.2. TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU PHÂN LOẠI HỌ RÁY Ở VIỆT NAM (bảng 1 và 2)

Các taxon họ Ráy ở Việt Nam lần đầu tiên được mô tả trong công trình “Flora Cochinchinensis” của J. Loureiro (1790); ở đó đa số các taxon đặt chung trong chi Arum L., từ loài Lasia spinosa xếp trong chi Dracontium. R. Brown (1882) đã công bố Pseudodracontium là một chi mới với mẫu chuẩn (typus) thu được từ Việt Nam. A. Engler và K. Krause (1911-1930) đã liên tục mô tả các loài mới của họ Ráy từ Việt Nam. Nhưng công trình mang tính hệ thống phân loại họ Ráy ở Việt Nam là của F. Gagnepain (1942) trong “Flore Genérale de L’ Indochine” với 5 tông, 21 chi và 80 loài, chia thành 2 nhóm dựa theo cấu tạo của bông mo: nhóm có bông nạc mang toàn bộ hoa lưỡng tính và nhóm có bông nạc chia thành phần đực và phần cái riêng, đôi khi đơn tính. Mặc dù công trình này còn nhiều thiếu sót, nhưng ngày nay vẫn được coi là công trình mang tính hệ thống về họ Ráy ở Việt Nam và vẫn được sử dụng. (bảng 1).

Trong những năm gần đây, đáng chú ý là công trình của Phạm Hoàng Hộ (1972, 1993, 2000) trong “Cây cỏ miền Nam Việt Nam” và “Cây cỏ Việt Nam” đã mô tả và kèm hình vẽ, sắp xếp gần với hệ thống A. Engler (1920) và A. Takhtajan (1973) (bảng 2) của 26 chi với 100 loài họ Ráy ở nước ta. Bên cạnh đó là Lê Khả Kế và cộng sự (1975) trong công trình “Cây cỏ thường thấy ở Việt Nam” với 18 chi và 40 loài họ Ráy. Đáng lưu ý hơn cả là công trình của Nguyễn Văn Dư (2007) trong “Danh lục các loài thực vật Việt Nam, tập 3” do Nguyễn Tiến Bân chủ biên, là kết quả nghiên cứu nhiều năm với 21 chi 151 loài. Ngoài ra họ Ráy còn được nghiên cứu về mặt tài nguyên trong các công trình của Đỗ Tất Lợi (1995), Võ Văn Chi (1997, 2012), Đỗ Huy Bích & cộng sự (1993),...

4.3. LỰA CHỌN HỆ THỐNG PHÂN LOẠI HỌ RÁY Ở VIỆT NAM

Sau khi phân tích đánh giá các hệ thống phân loại họ Ráy, nhận thấy hệ thống của S. J. Mayo & al. (1997) có nhiều điểm hợp lý hơn vì nó phản ánh sự tiến hóa của các taxon một cách cụ thể và tự nhiên, đồng thời có tham khảo kết quả nghiên cứu về tế bào, bào tử phấn hoa,... Mặc dù vậy, vẫn còn những hạn chế nhất định. Họ Ráy ở Việt Nam được sắp xếp theo hệ thống này. (bảng 3).

KHOÁ ĐỊNH LOẠI CÁC CHI THUỘC HỌ ARACEAE Ở VIỆT NAM

1A. Thực vật sống trên đất, hay phụ sinh trên cây gỗ, đá, hiếm khi thuỷ sinh (nếu thuỷ sinh thì không trôi nổi trên mặt nước); có bao hoa hoặc không, bông nạc mang nhiều hoa đơn tính hay lưỡng tính.  
2A. Bông nạc mang hoa lưỡng tính, không phân biệt thành các phần khác nhau, có bao hoa hoặc không.  
3A. Cây sống trên cạn, thân leo hay bò, không có gai.  
4A. Bao hoa rời, 4-6 mảnh, bầu 3 ô, noãn 1; lá có phiến nguyên, gân bên thường phát sinh từ gốc phiến, hướng lên trên hình cung; cuống lá thường dẹt dạng cánh;

(Subfam.1. POTHOIDEAE, Trib.1. Potheae)

1. POTHOS

4B. Hoa trần hoặc có bao hoa hợp thành chén, bầu 1 ô, rất hiếm khi 2, noãn từ 2 tới nhiều, ít khi một noãn; phiến lá nguyên hay xẻ thuỳ lông chim, gân bên hình lông chim, nhiều; cuống lá ít nhiều tạo thành bẹ (Subfam.2. MONSTEROIDEAE).
5A. Bao hoa hợp thành chén; bầu 1 ô, 1 noãn; không có thạch bào trong các bộ phận sinh dưỡng; lá có phiến nguyên; bẹ lá thường sớm bị khô xác nhưng không để lại sợi.

(Trib.2. Anadendreae)

2. ANADENDRUM

5B. Không có bao hoa; bầu 1 ô, hiếm khi 2 ô, noãn từ 2 tới nhiều, ít khi một noãn; có nhiều thạch bào trong các bộ phận sinh dưỡng (ít ở Amydrium); phiến lá nguyên hay xẻ thuỳ lông chim hoặc có lỗ thủng; có bẹ rõ hoặc không, khi khô xác để lại sợi; (Trib.3. Monstereae).
6A. Noãn thẳng, nhiều, có cuống dài. 3. RHAPHIDOPHORA
6B. Noãn cong, ít (1-6), có cuống ngắn.  
7A. Bầu 1 ô, 2-4(6) noãn; bẹ lá không tồn tại.  
8A. Bẹ lá không để lại sợi khi khô xác, gân con nổi rõ. 4. AMYDRIUM
8B. Bẹ lá để lại sợi khi khô xác, gân con không nổi rõ. 5. EPIPREMNUM
7B. Bầu 1 ô, 1 noãn; bẹ lá tồn tại. 6. SCINDAPSUS
3B. Cây mọc ở đầm lầy hay ở cạn; thân rễ hay thân củ; cuống lá hoặc phiến lá có gai. (Subfam.3. LASIOIDEAE; Trib.4. Lasieae).
9A. Sống ở cạn; phiến lá có dạng dracontioid; bông mo ngắn, toàn bộ dài khoảng 15-20 cm 7. PYCNOSPATHA
9B. Sống ở đất ngập nước; phiến lá nguyên hay xẻ lông chim; bông mo dài, toàn bộ dài hơn 20 cm.  
10A. Phiến lá có thuỳ sau dài hơn thuỳ trước; noãn 1-nhiều đính vách; cây thân củ.  8. CYRTOSPERMA
10B. Phiến lá có thuỳ sau ngắn hơn thuỳ trước; 1 noãn, đính treo; cây thân rễ. 9. LASIA
2B. Bông nạc phân biệt thành các phần mang hoa đực và phần mang hoa cái hoặc chỉ mang một loại hoa đực hoặc cái, hoa không có bao hoa. (Subfam.4AROIDEAE).
11A. Hệ gân có các gân con gần như song song xuất phát từ gân giữa chạy thẳng ra mép lá, gân bên không nối với nhau bằng 1 gân chung gần mép lá.  
12A. Thân rễ thường ít nhiều có mùi thơm; mo không phân biệt thành phần ống và phiến, thường có màu lục, chỉ mở khi hoa thụ phấn rồi đóng lại ngay, toàn bộ mo tồn tại cùng với phần hoa cái; bầu 2-4 ô, nhiều noãn.

 (Trib.5. Homalomeneae)

10. HOMALOMENA

12B. Thân rễ không có mùi thơm; mo phân biệt hoặc không phân biệt thành phần ống và phiến, toàn bộ mo hoặc chỉ phiến mo sớm rụng, ống mo thường tồn tại với phần hoa cái; bầu 1-2 ô, mỗi ô 1 noãn.  
13A. Mo phân biệt thành phần ống và phiến, chỉ phiến mo mở khi hoa thụ phấn rồi rụng sớm, ống mo không mở tồn tại cùng với quả.

 (Trib.6. Schismatoglottideae)

11. SCHISMATOGLOTTIS

13B. Mo không phân biệt thành ống và phiến, mở toàn bộ rồi rụng sớm. (Trib.7. Aglaonemateae)
14A. Sống ở cạn; thân khí sinh thẳng, có khi bò; cuống bông mo thường ngắn hơn cuống lá; gồm một vài vòng hoa cái ở gốc bông nạc. 12. AGLAONEMA
14B. Sống ở nước; thân rễ bò, hiếm khi thẳng; cuống bông mo thường dài gần bằng cuống lá; gồm một vòng hoa cái ở gốc bông nạc. 13. AGLAODORUM
11B. Hệ gân có các gân con xuất phát từ gân bên nối với nhau thành mạng, các gân bên nối với nhau bằng 1 gân chung gần mép lá.  
15A. Cây sống ở đất, chỗ ẩm nhưng không bao giờ thuỷ sinh; bông nạc có phần phụ tự do.  
16A. Chỉ nhị dính với nhau thành cột hoặc phiến; bao phấn khó nhận thấy.  
17A. Lá đa dạng nhưng không phải hình khiên; bầu 1 ô, 1 noãn.

(Trib.8. Calladieae)

14. HAPALINE

17B. Lá thường hình khiên hay ít nhiều hình khiên; bầu 1-4 ô, vài đến nhiều noãn.  (Trib.9. Colocasieae).
18A. Bông nạc không phần phụ ở tận cùng.  
19A. Giữa các hoa cái có xen lẫn với các hoa bất thụ, không có chồi mang truyền thể. 15. STEUDNERA
19B. Giữa các hoa cái không có các hoa bất thụ; có nhiều chồi dài mang các truyền thể. 16. REMUSATIA
18B. Bông nạc thường có phần phụ ở tận cùng hiếm khi không.  
20A. Noãn nhiều, đính vách; gân con nổi rõ ở mặt dưới lá. 17. COLOCASIA
20B. Noãn ít, đính gốc; gân con khó thấy ở mặt dưới lá. 18. ALOCASIA
16B. Chỉ nhị không liên kết với nhau thành cột hay phiến; bao phấn lộ rõ.  
21A. Bẹ cuống lá thường rất ngắn, hoặc không rõ, phiến lá thường có 3 thuỳ, thuỳ mang nhiều phiến nhỏ; phần phụ bông nạc thường mập, hiếm khi mảnh và hình dùi.

 (Trib.10. Thomsonieae)

19. AMORPHOPHALLUS

21B. Bẹ cuống lá rõ; phiến lá không như trên, nguyên hay xẻ thuỳ, đa dạng; phần phụ bông nạc thường mảnh, ít khi mập.  
22A. Bông nạc có phần bất thụ giữa phần hoa đực và phần hoa cái  (Trib.11. Areae)
23A. Phiến lá xẻ hình bàn đạp; mo không thắt giữa thành ống và phiến phân biệt, phần bất thụ giữa phần đực và phần cái không có khoảng trống và nhẵn. 20. SAUROMATUM
23B. Phiến lá thường nguyên hay xẻ thuỳ hiếm khi xẻ thuỳ dạng bàn đạp; mo thắt giữa thành ống và phiến phân biệt, phần bất thụ giữa phần đực và phần cái không có khoảng trống nhẵn (trừ T. flagelliforme). 21. TYPHONIUM
22B. Bông nạc không có phần bất thụ giữa phần hoa đực và cái.

(Trib.12. Arisaemateae) 

22. ARISAEMA

15B. Cây thuỷ sinh ở các sông, suối nơi có nước chảy chậm; cụm hoa được bao bọc trong mo dạng ống kín, bông nạc có phần phụ dính với mo.

(Trib.13. Cryptocoryneae)

23. CRYPTOCORYNE

1B. Thực vật thuỷ sinh, sống trôi nổi trên mặt nước; lá hình thìa, thường có cuống không phân biệt, mọc chụm; bông nạc chỉ có một hoa cái, 2-8 hoa đực; không có bao hoa. (Trib.14. Pistieae) 24. PISTIA

Sách Thực vật chí khác
TẬP 21 - THỰC VẬT CHÍ VIỆT NAM - FLORA OF VIETNAM: HỌ GỪNG – ZINGIBERACEAE Lindl.
Tác giả: Nguyễn Quốc Bình
TẬP 20 - THỰC VẬT CHÍ VIỆT NAM - FLORA OF VIETNAM: HỌ LONG NÃO - LAURACEAE Juss
Tác giả: Nguyễn Kim Đào
TẬP 15 - THỰC VẬT CHÍ VIỆT NAM - FLORA OF VIETNAM: HỌ THIÊN LÝ – ASCLEPIADACEAE R. Br.
Tác giả: Trần Thế Bách
Tập 13 - THỰC VẬT CHÍ VIỆT NAM - FLORA OF VIETNAM: HỌ CAU – ARECACEAE Schultz-Sch.
Tác giả: Andrew Henderson, Trần Thị Phương Anh
TẬP 18 - THỰC VẬT CHÍ VIỆT NAM - FLORA OF VIETNAM: HỌ TAI VOI - GESNERIACEAE Dumort.
Tác giả: Vũ Xuân Phương
TẬP 19 - THỰC VẬT CHÍ VIỆT NAM - FLORA OF VIETNAM: HỌ CHÈ - THEACEAE D. Don
Tác giả: Nguyễn Hữu Hiến
TẬP 17 - THỰC VẬT CHÍ VIỆT NAM - FLORA OF VIETNAM: 2. HỌ MÃ TIỀN - LOGANIACEAE R.Br.ex Mart
Tác giả: Vũ Văn Hợp, Vũ Xuân Phương
TẬP 17 - THỰC VẬT CHÍ VIỆT NAM - FLORA OF VIETNAM: 1.HỌ CÀ - SOLANACEAE Juss.
Tác giả: Vũ Văn Hợp
TẬP 16 - THỰC VẬT CHÍ VIỆT NAM - FLORA OF VIETNAM: HỌ RÁY - ARACEAE Juss.
Tác giả: Nguyễn Văn Dư
TẬP 14 - THỰC VẬT CHÍ VIỆT NAM - FLORA OF VIETNAM: HỌ BÔNG - MALVACEAE Juss.
Tác giả: Đỗ Thị Xuyến
Tập 12 - THỰC VẬT CHÍ VIỆT NAM - FLORA OF VIETNAM: HỌ BỒ HÒN - SAPINDACEAE Juss.
Tác giả: Hà Minh Tâm