Tên Sách:

TẬP 19 - THỰC VẬT CHÍ VIỆT NAM - FLORA OF VIETNAM: HỌ CHÈ - THEACEAE D. Don

THEACEAE D. Don, 1822 – HỌ CHÈ
(TERNSTROEMIACEAE R. Rr. 1818)

(2 phân họ, 5 tông, 11 chi, 124 loài, 15 thứ và 2 dạng)

MỞ ĐẦU

Họ Chè (Theaceae D. Don) có khoảng 29 chi với 550 loài, phân bố ở vùng nhiệt đới và cận nhiệt đới của 2 bán cầu. Những đại diện cơ bản nhất tập trung ở châu Á, nhất là Trung Quốc và Đông Dương. Việt Nam có 11 chi với 124 loài, 15 thứ và 2 dạng, thuộc 2 phân họ và 5 tông, phân bố chủ yếu ở các tỉnh vùng núi, trung du. Giá trị tài nguyên của họ Chè khá quan trọng, chủ yếu cho nước uống, tannin; một số cho gỗ, làm cảnh và thuốc chữa bệnh.

Các công trình nghiên cứu về hệ thống phân loại họ Chè (Theaceae) được bắt đầu từ giữa thế kỷ XVIII như C. Linnaeus (1753), Moech (1794), D. Don (1822),… Sau đó là G. Bentham & J. D. Hooker (1862-1887), V. H. Heywood (1993), H. Melchior (1964), Phedorov (1981), A. Takhtajan (1973, 1987, 1996),… Các công trình chuyên khảo chi Camellia có J. R. Sealy (1958), H. T. Chang & B. Bartholomew (1984); T. L. Ming (1999); chi Eurya có C. E. Kobuski (1947), L. K. Ling (1966),...

Ở Việt Nam cũng sớm có những tác giả người nước ngoài nghiên cứu về họ Chè (Theaceae) như J. Loureiro (1790), J. B. L. Pierre (1887), C. J. Pitart (1910), F. Gagnepain (1943, 1948). Bên cạnh đó còn có các công trình của tác giả Việt Nam về họ này đã bổ sung thêm nhiều tư liệu mới như Lê Khả Kế (1970), Phạm Hoàng Hộ (1970, 1991, 1999), Trần Đình Lý (1984), Nguyễn Tiến Bân (1997), Nguyễn Tiến Bân và Nguyễn Hữu Hiến (2003). Đặc biệt là một số công trình gần đây của J. C. Rosmann (1997), Trần Ninh (1998), Trần Ninh và N. Hakoda (1998) đã bổ sung một số taxon mới thuộc chi Camellia ở Việt Nam.

Một số công trình chủ yếu nghiên cứu về giá trị sử dụng của họ Chè ở Việt Nam như Đỗ Tất Lợi (1986, 2000), Võ Văn Chi (1997, 2012), Đỗ Huy Bích & cs. (2004),…

Các nước lân cận với Việt Nam cũng có những tác giả nghiên cứu chuyên sâu về phân loại họ Chè (Theaceae) như ở Trung Quốc có T. L. Ming (1997, 1999), H. T. Chang (1954, 1981, 1991, 1998), L. K. Ling (1996, 1998); ở Ấn Độ có W. T. Thiselton Dyer (1874),…

Thực vật chí Việt Nam, tập 19 - họ Chè (Theaceae D. Don) là công trình phân loại đầy đủ và có hệ thống được biên soạn trên cơ sở hàng chục năm nghiên cứu. Việc điều tra thu thập mẫu vật và tư liệu được tiến hành trên khắp lãnh thổ Việt Nam. Đồng thời cũng đã nghiên cứu tiêu bản và tư liệu ở các phòng tiêu bản trong nước như Viện Sinh thái và Tài nguyên sinh vật (HN); Khoa Sinh học, Trường Đại học Khoa học Tự nhiên (Đại học Quốc gia Hà Nội) (HNU); Viện Điều tra quy hoạch rừng (HNF); Viện Sinh học nhiệt đới (Tp. Hồ Chí Minh) (HM); Trường Đại học Dược Hà Nội (HNPI); Viện Dược liệu Hà Nội (HNPM); và các phòng tiêu bản thực vật nước ngoài như Viện Thực vật Komarov (LB Nga) (LE) và Bảo tàng Lịch sử Tự nhiên Quốc gia Paris, Pháp (P).

Tập sách dày 360 trang, trình bày những nội dung của một công trình về hệ thống phân loại họ Chè ở Việt Nam. Bao gồm phần giới thiệu đặc điểm hình thái các đại diện ở Việt Nam, kiểm kê các hệ thống phân loại và lựa chọn hệ thống cho nghiên cứu phân loại họ Chè (Theaceae) ở Việt Nam; phần chủ yếu là phân loại họ Chè ở Việt Nam. Mỗi taxon được trình bày danh pháp, tên đồng nghĩa, đặc điểm hình thái, mẫu chuẩn, sinh học và sinh thái, phân bố trong và ngoài nước, mẫu nghiên cứu, giá trị sử dụng, các nhận xét (nếu có). Bên cạnh đó là 117 hình vẽ về đặc điểm hình thái và các loài, 18 trang ảnh màu, các bảng tra tên khoa học và tên Việt Nam, tài liệu tham khảo. Ngoài ra còn có phần giới thiệu bằng tiếng Anh (mở đầu và các khoá định loại taxon).

Trong công trình có tham khảo và trích dẫn tư liệu, hình vẽ và ảnh màu của các tác giả khác.

1. ĐẶC ĐIỂM HÌNH THÁI

1.1. THÂN: Họ Chè (Theaceae) gồm toàn cây bụi và cây gỗ. Cây gỗ nhỏ cao 12-15 m trong các chi Vối thuốc (Schima), Giang núi (Ternstroemia), Thạch châu (Pyrenaria), Gò đồng (Gordonia). Ngay cả loài Chè (Camellia sinensis) thường được trồng và thu hoạch dưới dạng cây bụi nhưng những cá thể bị bỏ hoá ở vùng núi (Lai Châu, Lào Cai, Yên Bái, Hà Giang,…) đã trở thành cây gỗ lớn. Các loài có thân cây bụi thường chiếm phần lớn số loài trong các chi Súm (Eurya), Chè cuống cánh (Hartia), Chè (Camellia). Cành nhánh có khi có bì khổng ở một số loài trong chi Vối thuốc (Schima), Lương xương (Anneslea).

1.2. LÁ:  Lá đơn, mọc cách, riêng chi Giang núi và Lương xương (Ternstroemia, Anneslea) có lá mọc tụm đầu cành; mép nguyên trong một số loài thuộc các chi (Anneslea, Schima, Ternstroemia) hoặc có răng, răng cưa (Camellia, Eurya). Gân lông chim rõ hoặc không rõ (Camellia, Eurya). Lá chất dai, dày (Camellia, Gordonia). Cuống lá có cánh (Hartia). Hầu hết là cây thường xanh, trừ các loài trong chi Stuartia rụng lá.

1.3. CỤM HOA: Những hình thái chính của cụm hoa trong họ Chè là:

- Hoa mọc đơn độc hoặc chỉ có 1-2 hoa ở đầu cành hoặc ở nách lá (gặp ở trong các loài thuộc các chi Camellia, Pyrenaria, Ternstroemia, Tutcheria), hoặc mọc trên nách lá đã rụng (Ternstroemia).

- Cụm hoa hình bó (Cleyera, Eurya).

- Cụm hoa hình ngù-tán: Hoa giữa ngù và tán, là loại chùm nhưng cuống hoa dưới dài hơn cuống hoa phía trên. Còn cụm hoa tán là cụm hoa mà các cuống hoa ít nhiều đều sinh từ một điểm chung trông giống như cái dù (Anneslea).

- Cụm hoa hình chùm: Hoa có cuống xếp trên một cành kéo dài, hoa chín từ dưới lên (Gordonia, Schima,...).

1.4. LÁ BẮC và LÁ BẮC NHỎ: Là loại lá thoái hóa hoặc có cấu trúc dạng lá mọc ở gốc của một hoa hoặc của một cụm hoa. Nó cũng mọc trên cuống hoa bên dưới lá đài. Cuống hoa mang 2 lá bắc trong các chi: Dương đồng (Adinandra), Giang núi (Ternstroemia), Thạch châu (Pyrenaria), Thạch bút mộc (Tutcheria-một số loài) hoặc nhiều với 2-8 lá bắc như trong chi Chè (Camellia), hoặc chi Gò đồng (Gordonia) mọc sát dưới lá đài hoặc mọc rải rác trên cuống hoa. Lá bắc tồn tại hoặc sớm rụng, có lúc chuyển tiếp dạng lá đài như trong chi Chè (Camellia). Về hình dáng và kích thước rất khó phân biệt giữa lá đài và lá bắc. Vì vậy tạm gọi là lá bắc-đài (perulate trong J. R. Sealy, 1958) khi lá bắc và lá đài chưa phân hóa. Lá bắc-đài có hình từ vảy đến hình phiến hình tròn, nửa tròn (bán nguyệt), hình trứng,...

1.5. HOA: Là bộ phận sinh sản của cây gồm nhị, nhụy và bao hoa, đài và tràng. Hoa thường to, mang màu sắc rực rỡ trong chi Chè (Camellia) hoặc trong chi Thạch châu (Pyrenaria); hoa đều, lưỡng tính ở hầu hết các chi, riêng chi Súm (Eurya) có hoa đơn tính khác gốc hoặc cùng gốc, thậm chí hoa tạp tính ở chi Giang núi (Ternstroemia). Hoa mọc ở nách lá hoặc nách lá gần đầu cành thậm chí ở ngoài nách lá, rất ít khi tập hợp thành chùm trên cành riêng. Một số cá thể trong Camellia có mùi thơm (hình 1).

Hình 1. Một số hình thái hoa trong họ Chè

1. Ternstroemia gymnanthera (Wight & Arn.) Bedd.; 2. Adinandra bockiana Pritz. ex Diels; 3, 4. Eurya quinquelocularis Kobuski; 5. Cleyera japonica Thunb.; 6. Gordonia balansae Pitard; 7. Schima wallichii (DC.) Korth.; 8. Camellia vietnamensis Huang ex Hu; 9. Tutcheria spectabilis (Champ.) Dunn;

10. Pyrenaria multisepala (Merr. & Chun) Keng

Đài: Là vòng ngoài của bao hoa; thuật ngữ tập hợp cho tất cả lá đài của một hoa. Lá đài thường gồm 5 xếp lợp, trong chi Dương đồng (Adinandra), Súm (Eurya), Vối thuốc (Schima), Thạch châu (Pyranaria). Lá đài 4-7, không đều nhau, lớn dần từ ngoài vào trong, chuyển tiếp đến cánh hoa (Camellia), hoặc 9-11 lá đài trong chi Thạch bút mộc (Tutcheria), sớm rụng hoặc tồn tại với quả.

Tràng: Tràng thường gồm 5, đôi khi 6, trong các chi hoa mẫu 5 như đề cập ở đài, xếp lợp, rời hoặc dính nhau ít nhiều ở gốc; màu trắng (Anneslea, Camellia, Eurya, Pyrenaria, Schima), vàng (Camellia, Pyrenaria), hồng (một số Camellia) hoặc màu đỏ (một số Camellia). Cánh hoa biến động 5-9 thậm chí 12 cánh hoa dính nhẹ ở gốc trong chi Chè (Camellia) hoặc chi 5-7 trong chi Thạch bút mộc (Tutcheria).

Hình 2. Một số hình thái nhị trong họ Chè

1-8. bao phấn đính gốc: 1. Anneslea fragrans Wall.; 2. Ternstroemia gymnanthera (Wight & Arn.) Bedd.; 3, 8. bao phấn có lông: 3. Adinandra integerrima T. Anders. ex Dyer in Hook. f.; 8. Cleyera japonica Thunb.; 4, 5. bao phấn không có ô nhỏ: 4. Eurya polyneura Chun;
5. Eurya quinquelocularis Kobuski; 6, 7. bao phấn có ô nhỏ: 6. Eurya distichophylla Hemsl.; 7. Eurya cerasifolia (D. Don) Kobuski; 9-14. bao phấn đính lưng: 9. Hartia yunnanensis Hu; 10. Gordonia axillaris (Roxb. ex Ker-Gawl.) Dietr.; 11. Schima crenata Korth.; 12. Camellia glabricostata Ming Tienlu;

13. Camellia indochinensis Merr.; 14. Camellia nematodea (Gagnep.) J. R. Sealy

Bộ nhị: Bộ nhị gồm 5 đến nhiều nhị, xếp trong một vòng (Cleyera, Eurya), 2 vòng (Camellia) đến nhiều vòng (Gordonia, Camellia, Schima, Hartia, Pyrenaria), hoặc xếp đến 11 vòng (Camellia dormoyana). Nhị có thể đến 290 chiếc trong Chè hoa vàng tam đảo (Camellia petelotii), 338 chiếc trong Chè vàng yên tử (Camellia rosmannii). Nhị đực nhẵn (Eurya, Anneslea, Ternstroemia), nhị đực có lông (Adinandra, Cleyera). Chỉ nhị rời (Cleyera) hoặc chỉ nhị dính nhau thành ống ngắn (Hartia, Adinandra, Camellia). Bao phấn đính lưng (lắc lư) (Camellia, Gordonia, Hartia, Pyrenaria) hoặc đính gốc (Anneslea, Adinandra, Cleyera, Eurya, Ternstroemia). Bao phấn phần lớn các chi mở theo kẻ dọc, riêng trong chi Cleyera mở bằng lỗ ở đầu bao phấn. Bao phấn có thể nhẵn hoặc có gai (lông xù) Cleyera (Tristylium). Riêng trong chi Súm (Eurya) một số loài bao phấn còn có vách ngăn. Bao phấn còn có thể có phần phụ kéo dài ở đầu (Anneslea, Adinandra, Ternstroemia và một số loài trong Eurya). Các chi còn lại không có phần phụ hoặc phần phụ không bao giờ nhô khỏi bao phấn (Camellia, Gordonia, Stewartia, Pyrenaria và Schima) (hình 2).

Hình 3. Một số hình thái bộ nhụy trong họ Chè

1. bầu trung trong: 1. Anneslea fragrans Wall.; 2-14. bầu thượng trong: 2. Adinandra hirta Gagnep.; 3. Adinandra dongnaiensis Gagnep.; 4. Eurya nitida Korthals; 5. Eurya persicaefolia Gagnep.; 6. Hartia yunnanensis Hu; 7. Gordonia axillaris (Roxb. ex Ker-Gawl.) Dietr.;
8. Camellia dormoyana (Pierre ex Lanessan) J. R. Sealy; 9. Camellia nematodea (Gagnep.) J. R. Sealy; 10. Camellia sinensis (L.) O. Kuntze; 11. Camellia gaudichaudii (Gagnep.) J. R. Sealy; 12. Schima crenata Korth.; 13. Schima argentea Pritz.; 14. Pyrenaria multisepala (Merr. & Chun) Keng

Bộ nhuỵ: Cơ quan sinh sản cái của hoa, điển hình gồm núm nhụy, vòi nhụy và bầu. Bầu trong họ Chè thường là bầu thượng, riêng chi Anneslea có bầu bán hạ. Bầu có thể là hai ô (Cleyera, Ternstroemia và vài loài của Adinandra, Hartia), bầu 3 ô (Adinandra, Camellia, Gordonia), một số loài trong chi Eurya, bầu 5 ô ở Adinandra, Camellia, Pyrenaria, Gordonia. Đặc biệt bầu 7 ô ở loài Gordonia gigantiflora. Số noãn trong mỗi ô từ 2-3 (gặp ở Camellia, Pyrenaria, Tutcheria), có thể lên tới 20-100 (Adinandra). Noãn có thể là noãn thẳng (Anneslea), noãn treo (Camellia, Gordonia, Ternstroemia). Bầu có thể có lông hoặc nhẵn. Nếu bầu nhẵn thì vòi nhụy, núm cũng nhẵn. Bầu có bao nhiêu ô, quả cũng có bấy nhiêu ô hoặc ít hơn do bị thui trong quá trình lớn lên. Vòi nhụy có thể là vòi nhụy nguyên (1 vòi nhụy) trong chi Adinandra, Schima, Gordonia, Pyrenaria, 3 vòi nhụy rời hoặc dính một phần trong hầu hết các loài trong chi Camellia, Eurya. Bầu có 5 vòi nhụy rời hoặc dính một phần. Nguyên tắc bầu có bao nhiêu ô, có bấy nhiêu vòi nhụy tương ứng (nếu vòi nhụy rời) hoặc xẻ hoặc bấy nhiêu thuỳ ở đầu vòi nhụy (hình 3).

Hình 4. Một số hình thái quả và hạt một số taxon trong họ Chè

1. quả nạc từ bầu hạ hoặc bán hạ: Anneslea fragrans Wall.; 2-4. quả nạc bầu thượng: 2. Ternstroemia gymnanthera (Wight & Arn.) Bedd.; 3. Eurya nitida Korthals; 4. Cleyera japonica Thunb.; 5-9. quả nang: 5. Hartia tonkinensis Merr. 6. Gordonia axillaris (Roxb. ex Ker-Gawl.) Dietr.;

7. Schima argentea Pritz.; 8. Camellia vietnamensis Huang ex Hu; 9. Pyrenaria multisepala (Merr. & Chun) Keng

1.6. QUẢ VÀ HẠT: Họ Chè phần lớn có quả nang chẻ ô hoặc huỷ vách, giữ lại một cột (Columella) ở giữa quả sau khi quả tách (Camellia, Schima), còn có dạng quả hạch (Pyrenaria) hoặc dạng quả nạc (Adinandra, Ternstroemia). Hạt một đến nhiều trong mỗi ô. Hạt có cánh một bên ở Gordonia, hoặc cánh xung quanh ở Schima, không cánh ở Camellia, Eurya. Mặt vỏ hạt có thể có vân như hầu hết các loài trong Eurya. Phôi nhũ thường nghèo, có khi không. Mầm lớn, nạc, thẳng hoặc cong. (hình 4).

Typus: Thea L. [= Camellia L.]

2. PHÂN BỐ VÀ SINH THÁI 

Họ Chè có khoảng 29 chi và 550 loài trên thế giới (A. Takhtajan, 1987), phân bố chủ yếu ở nhiệt đới và cận nhiệt đới, ôn đới ẩm châu Á. Còn có ở châu Phi, châu Mỹ; tập trung nhiều vùng Đông Nam Á và Đông Nam Bắc Mỹ; một số ít ở Trung Mỹ, một số ở vùng ôn đới.

3. GIÁ TRỊ TÀI NGUYÊN

Giá trị lớn nhất trong họ là cây Chè (Camellia sinensis) đã trở thành đồ uống rất được ưa chuộng khắp thế giới và là nguồn hàng xuất khẩu đem lại kim ngạch đáng kể cho nền kinh tế một số nước như Ấn Độ, Sri Lanka, Trung Quốc, Việt Nam,… Một số loài được trồng làm cảnh vì có hoa to, màu sắc rực rỡ, dáng cành lá đẹp trong chi Camellia. Một số loài cho gỗ trong Schima, Pyrenaria. Một số loài làm thuốc trị bệnh và thuốc nhuộm trong Eurya.

4. HỆ THỐNG PHÂN LOẠI

Ngay từ thế kỷ XVIII họ Chè đã được C. Linnaeus (1753) đặt tên cho 3 chi thuộc họ Chè ngày nay là: Thea, CamelliaStewartia. Các chi này được tác giả xếp trong nhóm nhị nhiều, nhụy đơn và nhị hợp thành bó (Polyandria monogyniaMonadelphe polyandrye) cùng với rất nhiều chi của các họ khác có chung đặc điểm này. Một số các nhà thực vật như J. Loureiro (1790), Moench (1794) cũng theo quan điểm của C. Linnaeus. Đến thế kỷ XIX, D. Don (1822) đã đặt tên cho họ Chè là Theaceae, lấy từ tên chi Thea của C. Linnaeus. Từ đây các chi thuộc họ Chè được sắp xếp lại trong hệ thống nhất định. Cho đến nay có nhiều hệ thống phân loại họ Chè, song có thể phân chia thành hai quan điểm.

- Quan điểm thứ nhất: Cách phân chia đầu tiên: phân chia họ Chè thành các tông (Tribus) từ tông phân chia trực tiếp đến các chi (Genus). Cách thứ hai: phân chia họ Chè thành các phân họ (Subfamilia), đến các tông (Tribus), có khi đến phân tông (Subtribus), đến các chi (Genus). Tiêu biểu cho cách phân chia thứ nhất là hệ thống G. Bentham & J. D. Hooker (1862-1887); họ Chè được đặt tên là Ternstroemiaceae. Căn cứ vào đặc điểm của hoa, bao hoa, nhị và quả, tác giả chia họ Chè thành 6 tông là: 1. Rhizoboleae, 2. Marcgravieae, 3. Ternstroemieae, 4. Sauraujeae, 5. Gordoniaeae và 6. Bonnetieae. Thực tế các chi thuộc họ Chè như hiện nay được tác giả xếp trong 2 tông: 3. Ternstroemieae (8 chi) và 5. Gordonieae (9 chi). Các tông khác (1, 2, 4, 6) sau này được chuyển thành các họ độc lập với họ Chè. V. H. Heywood (1993) căn cứ vào đặc điểm cách đính bao phấn (đính gốc hay đính lưng) và đặc điểm của quả (nang hay mọng) chia họ Chè thành 2 tông: CamellieaeTernstroemieae với khoảng 29 chi trên 1000 loài.

- Quan điểm thứ hai: Tiêu biểu cho cách phân chia này là H. Melchior (1964). Tác giả đã chia họ Chè thành 6 phân họ: 1. Theoideae, 2. Ternstroemioideae, 3. Bonnetioideae, 4. Asteropeioideae, 5. Tetrameristoideae và 6. Pelliroideae. Thực chất các chi thuộc họ Chè chỉ được sắp xếp thành 2 phân họ: 1. Theoideae (= Camelloideae) với 2 tông (Theeae, Gordonieae) 9 chi và phân họ 2 là Ternstroemioideae với 3 tông (Ternstroemieae, Sladeniaeae, Adinandreae) 8 chi. Các phân họ khác (3, 4, 5, 6) sau này được tách thành các họ độc lập không nằm trong họ Chè.

Phedorov (1981) trong hệ thống của mình đã thống nhất với H. Melchior về quan điểm các chi họ Chè chỉ gồm trong 2 phân họ TheoideaeTernstroemioideae, còn các chi trong 4 phân họ khác trong hệ thống H. Melchior bị loại khỏi họ Chè.

A. Takhtajan (1987) trên cơ sở đặc điểm của hoa, đài, nhị, cách đính của bao phấn và quả đã đưa ra hệ thống phân loại họ Chè gần giống với hệ thống của Phedorov (1981) nhưng thứ tự phân họ có khác: phân họ Ternstroemioideae được đưa lên vị trí thứ nhất, còn phân họ Theoideae đặt ở vị trí thứ hai. Tông Sladenieae trong hệ thống H. Melchior (1964), của Phedorov (1981) được tách thành một họ độc lập-họ Sladeniaceae. Đến A. Takhtajan (1996), lại đưa ra một hệ thống phân loại mới cho họ Chè. Hệ thống này về cơ bản giống với hệ thống của ông năm 1987, chỉ khác là Sladeniaceae được tách thành họ độc lập trong hệ thống 1996, thì nay ông chuyển thành một phân họ của họ Chè với đặc điểm về đài, số lượng nhị, cách đính bao phấn giống phân họ Ternstroemioideae, quả là loại quả khô giống với phân họ Theoideae. (bảng 1).

Các nước lân cận Việt Nam có W. T. Thiselton Dyer (1874) khi nghiên cứu thực vật Ấn Độ đã áp dụng hệ thống của G. Bentham & J. D. Hooker (1862-1887), chia họ Chè thành 4 tông: Ternstroemieae, Sauraujeae, Gordonieae Bonnetieae trong đó các chi thuộc họ Chè chỉ có ở 2 tông: Ternstroemieae với 6 chi và Gordonieae với 4 chi.

H. T. Chang (1998) nghiên cứu họ Chè ở Trung Quốc lại sắp xếp các chi trong họ Chè vào 2 phân họ: Theoideae với 4 tông (Theeae, Gordonieae, Stewartieae, Pyrenarieae) và Ternstroemioideae với 3 tông (Ternstroemieae, AdinandrieaeAnnesleeae). (bảng 1).

Ở Việt Nam, C. J. Pitard (1910) nghiên cứu họ Chè (Ternstroemiaceae) cũng sắp xếp các chi theo hệ thống G. Bentham & J. D. Hooker với 2 tông là Bonnetieae có 1 chi (Archytaea) và Ternstroemieae có 8 chi. Trên thực tế chỉ có 8 chi tông Ternstroemieae thuộc họ Chè.

Sau khi nghiên cứu các hệ thống trên, hệ thống A. Takhtajan (1987) đã được lựa chọn cho việc sắp xếp các taxon trong họ Chè (Theaceae) ở Việt Nam. Lý do lựa chọn hệ thống này bởi vì đây là hệ thống tương đối phù hợp cho việc sắp xếp các taxon, nó cũng giải thích được mối quan hệ chủng loại giữa các taxon trong họ Chè ở Việt Nam. (bảng 2).

KHOÁ ĐỊNH LOẠI CÁC CHI THUỘC HỌ CHÈ (THEACEAE)  Ở VIỆT NAM

1A. Hoa lưỡng tính, đơn tính hay tạp tính; hoa nhỏ; nhị xếp thành 2 vòng; bao phấn đính gốc; quả mọng hoặc quả thịt (Subfam.1. Ternstroemioideae)
2A. Hoa có đường kính lớn hơn 1 cm; mỗi ô bầu có 1-7 noãn. Hạt dài hơn 3 mm (Trib.1. Ternstroemieae)
3A. Hoa lưỡng tính, bầu hạ hay bán hạ (bầu dưới)  1. ANNESLEA
3B. Hoa đơn tính, tạp tính; bầu thượng (bầu trên)  2. TERNSTROEMIA
2B. Hoa có đường kính nhỏ hơn 1 cm; mỗi ô bầu có nhiều hơn 7 noãn. Hạt dài không quá 2 mm (Trib.2. Adinandreae).
4A. Hoa lưỡng tính; bao phấn có lông.  
5A.  Bầu 3-6 ô; noãn nhiều (trên 20) trong mỗi ô. Hạt dài không quá 1 mm 3. ADINANDRA
5B. Bầu 2-3 ô; noãn ít (không quá 20) trong mỗi ô. Hạt dài 1-2 mm.  4. CLEYERA
4B. Hoa đơn tính khác gốc; bao phấn nhẵn 5. EURYA
1B. Hoa lưỡng tính; hoa thường lớn; nhị nhiều xếp thành 2-6 vòng; bao phấn đính lưng; quả nang hay quả hạch (Subfam.2. Theoideae)
6A. Hạt có cánh, dẹt.  
7A. Cuống lá có cánh; quả hình trứng tới hình nón, mang đài tồn tại; cột quả thoái hoá chỉ cao bằng 1/2 độ dài của các ô

(Trib.3. Stewartieae)

6. HARTIA

7B. Cuống lá không có cánh; quả hình bầu dục, hình trụ tới dẹt; đài không tồn tại hoặc, nếu tồn tại không bao lấy quả; cột quả cao hơn 2/3 độ dài các ô  (Trib.4. Gordonieae).
8A. Hạt có cánh ở đầu hoặc một bên; quả hình thuôn  7. GORDONIA
8B. Hạt có cánh xung quanh; quả hình cầu dẹt.  8. SCHIMA
6B. Hạt không có cánh, hình cầu hoặc 3 góc (Trib.5. Theeae)
9A.  Quả nang mở từ trên xuống hoặc từ dưới lên.  
10A.  Quả nang mở từ trên xuống; rốn hạt lõm  9. CAMELLIA
10B.  Quả nang mở từ dưới lên; rốn hạt hình trứng 10. TUTCHERIA
9B.  Quả hạch; rốn hạt hình đường hoặc hình bầu dục hẹp 11. PYRENARIA

 

 

 

Sách Thực vật chí khác
TẬP 21 - THỰC VẬT CHÍ VIỆT NAM - FLORA OF VIETNAM: HỌ GỪNG – ZINGIBERACEAE Lindl.
Tác giả: Nguyễn Quốc Bình
TẬP 20 - THỰC VẬT CHÍ VIỆT NAM - FLORA OF VIETNAM: HỌ LONG NÃO - LAURACEAE Juss
Tác giả: Nguyễn Kim Đào
TẬP 15 - THỰC VẬT CHÍ VIỆT NAM - FLORA OF VIETNAM: HỌ THIÊN LÝ – ASCLEPIADACEAE R. Br.
Tác giả: Trần Thế Bách
Tập 13 - THỰC VẬT CHÍ VIỆT NAM - FLORA OF VIETNAM: HỌ CAU – ARECACEAE Schultz-Sch.
Tác giả: Andrew Henderson, Trần Thị Phương Anh
TẬP 18 - THỰC VẬT CHÍ VIỆT NAM - FLORA OF VIETNAM: HỌ TAI VOI - GESNERIACEAE Dumort.
Tác giả: Vũ Xuân Phương
TẬP 19 - THỰC VẬT CHÍ VIỆT NAM - FLORA OF VIETNAM: HỌ CHÈ - THEACEAE D. Don
Tác giả: Nguyễn Hữu Hiến
TẬP 17 - THỰC VẬT CHÍ VIỆT NAM - FLORA OF VIETNAM: 2. HỌ MÃ TIỀN - LOGANIACEAE R.Br.ex Mart
Tác giả: Vũ Văn Hợp, Vũ Xuân Phương
TẬP 17 - THỰC VẬT CHÍ VIỆT NAM - FLORA OF VIETNAM: 1.HỌ CÀ - SOLANACEAE Juss.
Tác giả: Vũ Văn Hợp
TẬP 16 - THỰC VẬT CHÍ VIỆT NAM - FLORA OF VIETNAM: HỌ RÁY - ARACEAE Juss.
Tác giả: Nguyễn Văn Dư
TẬP 14 - THỰC VẬT CHÍ VIỆT NAM - FLORA OF VIETNAM: HỌ BÔNG - MALVACEAE Juss.
Tác giả: Đỗ Thị Xuyến
Tập 12 - THỰC VẬT CHÍ VIỆT NAM - FLORA OF VIETNAM: HỌ BỒ HÒN - SAPINDACEAE Juss.
Tác giả: Hà Minh Tâm