Tên Sách:

TẬP 20 - THỰC VẬT CHÍ VIỆT NAM - FLORA OF VIETNAM: HỌ LONG NÃO - LAURACEAE Juss

LAURACEAE Juss. 1789 – HỌ LONG NÃO

(2 phân họ, 5 tông, 6 phân tông, 21 chi, 273 loài, 32 thứ và 2 dạng)

MỞ ĐẦU

Họ Long não (Lauraceae Juss.) có khoảng 52 chi với 2500-3500 loài, phân bố các vùng nhiệt đới và á nhiệt đới. Việt Nam có khoảng 21 chi, 273 loài, 32 thứ và 2 dạng, phân bố giảm dần từ Bắc xuống Nam. Giá trị tài nguyên họ Long não rất quan trọng cả về mặt khoa học và sử dụng trong đời sống nhân dân. Trong công trình tác giả công bố 3 loài mới (sp. nov.), 2 thứ mới (var. nov.) và 2 tập hợp tên mới (comb. nov.).

Các công trình nghiên cứu về hệ thống phân loại họ Long não bắt đầu từ tác giả C. Linnaeus (1753). Sau đó có các công trình hệ thống phân loại của A. J. Jussieu (1789), E. Nees (1836), C. F. Meisner (1864), H. E. Baillon (1870), G. Bentham & J. D. Hooker f. (1880-1886), C. Mez (1889), F. Pax (1891), J. Hutchinson (1964) và A. J. G. H. Kostermans (1957-1993).

Ở Việt Nam cũng sớm có những tác giả người nước ngoài nghiên cứu họ Long não như: J. Loureiro (1790), H. Lecomte (1913, 1914), H. Liou (1932-1934). Bên cạnh đó có một số công trình tác giả người Việt Nam nghiên cứu về họ Long não ngày càng bổ sung thêm taxon và tư liệu cho thực vật Việt Nam như: Lê Khả Kế (1971), Phạm Hoàng Hộ (1970, 1991, 1999), Nguyễn Kim Đào (2003),...

Ngoài ra, có một số công trình có ý nghĩa về mặt khoa học và làm thuốc như Đỗ Tất Lợi (1977, 1995), Võ Văn Chi (1991, 1996, 1997), Đỗ Huy Bích & Bùi Xuân Chương (1980), Đỗ Huy Bích & cs. (1993, 1994, 1999, 2004). Các nước lân cận với Việt Nam cũng có những nghiên cứu về phân loại họ Long não như: C. K. Allen (1937, 1938, 1939, 1941) (Trung Quốc), A. J. G. H. Kostermans (1973, 1974, 1988) (Đông Nam Á),...

Thực vật chí Việt Nam tập 20, họ Long não (Lauraceae) là công trình phân loại đầy đủ và hệ thống được biên soạn trên cơ sở nhiều năm nghiên cứu, điều tra, thu thập tiêu bản và tư liệu được tiến hành khắp lãnh thổ Việt Nam, đặc biệt các vùng có điều kiện phù hợp cho sự phân bố các loài trong họ Long não. Đồng thời đã nghiên cứu tiêu bản và tư liệu ở các phòng tiêu bản thực vật như: Phòng Tiêu bản thực vật, Viện Sinh thái và Tài nguyên sinh vật (HN); Phòng Tiêu bản thực vật, Viện Điều tra quy hoạch rừng (HNF); Phòng Tiêu bản thực vật, Trường Đại học Dược Hà Nội (HNPI); Phòng Tiêu bản thực vật, Viện Dược liệu Hà Nội (HNPM); Phòng Tiêu bản thực vật, Trường Đại học Khoa học Tự nhiên, Đại học Quốc gia Hà Nội (HNU); Phòng Tiêu bản thực vật, Viện Sinh học nhiệt đới (Thành phố Hồ Chí Minh) (HM) và các phòng tiêu bản nước ngoài như: Phòng Tiêu bản thực vật, Viện Thực vật Komarov, St.-Peterburg, Nga (LE); Phòng Tiêu bản thực vật, Viện Thực vật Côn Minh, Trung Quốc (KUN); Phòng Tiêu bản thực vật, Viện Thực vật Quảng Tây, Trung Quốc (IBK); Phòng Tiêu bản thực vật, Viện Thực vật Bắc Kinh, Trung Quốc (PE); cũng như quan hệ hợp tác quốc tế trao đổi thông tin.

Tập sách dày 700 trang, trình bày những nội dung cho một công trình hệ thống phân loại họ Long não ở Việt Nam, bao gồm giới thiệu đặc điểm hình thái các đại diện ở Việt Nam, kiểm kê các hệ thống phân loại và chọn hệ thống cho họ Long não ở Việt Nam; phần chủ yếu là các khoá định loại taxon. Mỗi taxon được trình bày: danh pháp, synonym, đặc điểm hình thái, mẫu chuẩn, sinh học sinh thái, phân bố trong và ngoài nước, mẫu nghiên cứu, giá trị sử dụng, các nhận xét (nếu có). Kèm theo là 292 hình vẽ 53 ảnh màu, các bảng tra tên khoa học và tên Việt Nam, tài liệu tham khảo chính.

Trong công trình còn tham khảo và trích dẫn tư liệu, hình vẽ, ảnh màu của các tác giả khác.

1. ĐẶC ĐIỂM HÌNH THÁI

Họ Long não (Lauraceae) dễ nhận biết ngoài thiên nhiên bởi các đặc điểm: cây gỗ với lá đơn, mọc cách hoặc gần đối, không có lá kèm; hiếm khi là cỏ ký sinh không có lá (Cassytha), thường có tuyến tinh dầu. Hoa mẫu 3 (ít khi mẫu 5 hay mẫu 2). Họ cũng rất đặc trưng bởi bộ nhị nhiều nhị (nhưng là bội số của mảnh bao hoa), họp thành những bó 3 nhị, trong đó 2 nhị bên thường tiêu giảm thành nhị lép hay tuyến mật và bởi bao phấn mở bằng 2 hoặc 4 van. Nhận biết họ Long não có thể dễ dàng, song để phân biệt các taxon trong họ rất khó, bởi chúng rất đa dạng. Tính đa dạng được thể hiện trong cả cơ quan dinh dưỡng và đặc biệt trong cơ quan sinh sản.

1.1. RỄ

Rễ các loài của họ Long não phát triển từ rễ mầm thành rễ chính, từ đó sinh ra những rễ bên. Rễ chính thường to, khoẻ, đâm sâu trong lòng đất và là chỗ dựa vững chắc cho toàn bộ cây. Ở họ Long não một số loài có bạnh vè như Gù hương (Cinnamomum balansae), Dã hương (C. camphora var. werffii). Đặc biệt có một số rễ, ngoài việc hút thức ăn, còn tích luỹ một số hoạt chất có giá trị như safrol (rễ Cinnamomum parthenoxylon, C. camphora var. werffii, C. cambodianum) hoặc camphora (rễ Cinnamomum camphora) hoặc rễ Ô dầu đắng (Lindera myrrha) chứa lindestreme, lindestrenolide,… dùng làm thuốc chữa bệnh.

1.2. THÂN

Trong tất cả các loài của họ Long não, trừ dây Tơ xanh (Cassytha filiformis và C. capillaris) là dây leo thân cỏ, còn lại đều là cây gỗ nhỏ hay lớn, có thân tròn, phân nhánh nhiều hay ít. Một số loài trong chi Cryptocarya ở vỏ cành có nhiều bì khổng. Trong thân của nhiều loài thuộc chi Long não (Cinnamomum), Bời lời (Litsea), Nô tam tầng (Neolitsea), Ô đước (Lindera), Nguyệt quế (Laurus) có chứa tinh dầu thơm,… Những cành non của một số loài trong các chi này có màu xanh.

1.3. LÁ

Lá mọc cách, đôi khi mọc đối hoặc gần đối (Beilschmiedia, Endiandra, Cryptocarya,...) hoặc mọc vòng (Actinodaphne, Neolitsea). Lá đơn, nguyên hoặc xẻ thùy (một số loài trong chi Litsea, Lindera, Sassafras). Gân lá hình lông chim hoặc 3 gân từ gốc (đa số loài Cinnamomum, một số loài trong chi Lindera, Neolitsea, Cryptocarya, Caryodaphnopsis,...); gân giữa lõm, phẳng hoặc lồi ở mặt trên, mặt dưới lồi, hiếm khi phẳng; gân bên (gân cấp 2) rõ ở mặt dưới, song song hoặc uốn cong về phía mép lá; gân cấp 3 làm thành mạng rõ ở mặt dưới, đôi khi rõ cả 2 mặt (Beilschmiedia). Lá nhẵn hay có lông ở mặt dưới lá; có những loài lông óng ánh như bạc (Lindera myrrha) hoặc màu vàng, màu gỉ sắt, màu nâu (Actinodaphne, Endiandra, Persea,...). Ở một số loài, lông chỉ tồn tại ở giai đoạn lá non; một số chi chồi lá gồm những vảy lợp (Beilschmiedia, Cryptocarya, Machilus,...).

1.4. CỤM HOA

Cụm hoa ở đầu cành, nách lá hoặc ở phần thân không mang lá thành các kiểu hình tháp (thyrsoid), chùm (racema), chuỳ (panicule), tán (umbel),… (hình 1).

1.5. HOA

Hoa của họ Long não nhỏ, nhưng vẫn có thể nhận biết bằng mắt thường. Hoa có cuống hay đôi khi không cuống (Lindera spicata). Hoa điển hình của họ Lauraceae có công thức P3+3 A3+3+3 C1. Hoa mẫu 3 có trong nhiều chi như Persea, Cinnamomum, Beilschmiedia, Cryptocarya, Alseodaphne, Phoebe,… nhưng số lượng các thành phần có thể thay đổi trong một số chi. Ở họ Long não, thành phần bên ngoài của 1 hoa là bao hoa, thường xếp thành 3 vòng, mỗi vòng có 3 thuỳ, xu hướng giảm rất hiếm; ở Neolitsea, Potameia P2+2 hoặc một số loài trong chi Litsea tìm thấy 5 thùy bao hoa hoặc ở Octolitsea có tới 8 thùy bao hoa, đôi khi ta bắt gặp trong chi Litsea có trường hợp bao hoa biến thành nhị. Theo các nhà giải phẫu, thùy bao hoa 2 vòng xuất hiện cùng một lúc. Tuy nhiên ở một vài chi (Persea) thùy bao hoa vòng ngoài nhỏ hơn thùy bao hoa vòng trong.

1.6. BỘ NHỊ

Bộ nhị nhiều nhị, là bội số của mảnh bao hoa, hợp thành những bó 3 nhị. Thường gặp 9 nhị trong đa số các chi, tuy nhiên ở một số chi nhị có thể là 6 (Neolitsea) hoặc 4 (Potameia) hoặc 3 (Endiandra), hoặc có thể 12, 32 (Một số loài trong chi Litsea). Các nhị tập hợp thành bó và thường chia ra làm 4 vòng, 3 vòng ngoài là nhị hữu thụ, vòng trong cùng thường là bất thụ biến thành tuyến mật hoặc nhị lép. Trong 3 vòng ngoài thì nhị 2 vòng ở ngoài không có tuyến, vòng thứ 3 thường là hợp sinh, là những bó nhị tiêu giảm thường có 3 (hiếm khi 5) nhị hợp, trong đó 2 nhị bên ngắn và biến thành tuyến; tuyến có hình dạng khác nhau như hình thận, hình tim hoặc hình trứng, có chân hoặc không chân, đôi khi chúng kết thành những bao phấn thô sơ. Tuy nhiên cũng có một vài xu hướng giảm bớt của nhị. Ở một số loài trong các chi Cryptocarya, Alseodaphne nhị lép tiêu giảm chỉ còn là những chấm nhỏ. Đa số các loài nhị lép vòng thứ 4 có kích thước và hình dạng khác nhau, có thể là hình tim có cuống (Beilschmiedia, Persea,...) hoặc hình mũi tên, hình sợi (Cinnamomum,...).

Hình 1. Một số hình thái cụm hoa họ Long não

1-5. Sơ đồ cấu tạo cụm hoa: 1. cụm hoa hình tháp (Persea);
2, 3. cụm hoa chùy hoặc chùm tán (Cinnamomum); 4. cụm hoa chùy (Cinnadenia);
5. cụm hoa tán (Litsea, Lindera, Neolitsea, Actinodaphne,...)
(hình theo J. G. Rohwer, 1993)
6-9. một số dạng cụm hoa: 6. cụm hoa hình tháp (Cinnamomum, Persea, Nothaphoebe, Caryodaphnopsis);
7. cụm hoa chùy (Cryptocarya,...); 8. cụm hoa tán chùy (Sassafras);
9. cụm hoa tán (Litsea, Lindera, Actinodaphne,...)
(hình theo Henk van der Werff & H. G. Richter, 1996)

Hình 2. Một số hình thái bao phấn họ Long não

1 (a-g). bao phấn 4 ô, nhị không mang tuyến; 2 (a-g). bao phấn 4 ô, nhị mang tuyến;
3 (a-i). bao phấn 4 ô, nhị mang tuyến; 4 (a-i). bao phấn 2 ô, nhị không mang tuyến;
5a. bao phấn 4 ô: sắp xếp 2 trên, 2 dưới (Machilus, Cinnamomum, Alseodaphne, Litsea, Actinodaphne,...);
5(b, c). ô bao phấn xếp theo hình vòng cung (Dicypellium);
5d. ô bao phấn sắp xếp gần như trên mặt phẳng (Eusideraxylon); 5e. 2 ô bao phấn trên ở trong và
2 ô dưới ở bên (Caryodaphnopsis, Neocinnamomum); 5g. Cryptocarya; 5h. Ocotea
(hình theo J. G. Rohwer, 1993)

Bao phấn chủ yếu có 2 dạng: bao phấn 4 ô và bao phấn 2 ô, hiếm khi bị tiêu giảm chỉ còn 1. Bao phấn thường mở bằng van (lưỡi gà). Cách sắp xếp ô phấn thường là 2 trên 2 dưới (loại bao phấn 4 ô) hoặc theo hình vòng cung 2 trên 2 bên hoặc 4 ô sắp xếp trên cùng một mặt phẳng. Hướng quay của ô phấn là một trong những đặc điểm quan trọng để phân biệt các tông. Ví dụ phân tông Laureineae gồm các chi Litsea, Lindera, Sassafras, Actinodaphne, Cinnadenia, Neolitsea tất cả nhị đều có bao phấn hướng vào trong, các tông còn lại có 2 vòng nhị đầu bao phấn hướng vào trong, vòng nhị thứ 3 bao phấn hướng ra ngoài.

Miệng ô phấn thường thu nhỏ lại một cách đáng kể sau khi van mở. Đa số van mở từ dưới lên trên, hiếm có trường hợp mở ngược lại. (hình 2).

1.7. BỘ NHUỴ

Thường là bầu thượng 1 ô, chứa 1 noãn. Noãn thường là noãn treo hoặc noãn đảo. Bầu không dính vào thuỳ bao hoa và quả đính trên 1 cuống trần hoặc trên đế cứng (do thuỳ bao hoa rụng để lại), biểu hiện trong 1 số chi như Alseodaphne, Persea, Beilschmiedia, Caryodaphne, Nothaphoebe,… Đôi khi gặp bầu trung, đế bầu dính vào 1 cái chén do thuỳ bao hoa tạo thành. Chén có thể nông hoặc mở rộng ôm 1 phần hoặc 1/2 quả, gồm các chi Cinnamomum, Litsea, Lindera, Neolitsea, Actinodaphne,… Đôi khi ống bao hoa mở rộng nhanh hơn bầu và kết quả là quả đầu tiên bị bao bọc hoàn toàn trong 1 cái đấu (một số loài trong chi Litsea). Bầu hạ, bầu được bao bọc có ở các chi Cryptocarya, Cassytha (hình 3).

1.8. QUẢ

Quả của họ Long não (Lauraceae) chứa 1 hạt. Quả được đính trên 1 cuống hình trụ, hình nón ngược loe ở trên (Dehaasia, Alsseodaphne) hoặc hình chuỳ (một vài loài trong chi Litsea, Alseodaphne), màu sắc của cuống có thể là màu đỏ tươi (Machilus, Alseodaphne,) tím sẫm hoặc nâu sậm (Beilschmiedia, Alseodaphne,…) hay màu xanh phấn, màu xanh, xanh vàng, xanh đen (trong đa số loài của họ).

Quả được cấu tạo bởi vỏ quả ngoài thường nhẵn và bóng, trong một vài trường hợp hóa gỗ (Alseodaphne, Cryptocarya), khi chín màu đen, đôi khi màu đỏ (vài loài trong Neolitsea), màu trắng (một vài loài trong Litsea), hoặc màu vàng (một số loài Actinodaphne); ở giai đoạn quả còn non thường màu xanh phấn (Litsea). Vỏ quả giữa luôn luôn mọng nước, mỏng, đôi khi dày lên như ở cây Bơ (Persea americana), có vị đắng thơm và béo ngậy; vỏ quả trong mỏng và nhẵn.

Quả hình bầu dục, hình trứng, hình cầu (đa số các loài trong họ), hình quả lê (Persea americana), đôi khi hình con quay; quả thót về phía đế quả ở một số loài trong các chi không có chén quả (Alseodaphne, Beilschmiedia, Persea, Dehaasia,…). (hình 3).

Hình 3. Một số hình thái bầu và quả họ Long não

1 (a-c). bầu thượng (Actinodaphne); 2 (a-e): bầu trung (Cinnamomum, Litsea,..);
3 (a-d). bầu hạ (Cryptocarya); 4. các kiểu quả: a. Phoebe; b. Ocotea; c. Machilus;
 
d. Beilschmiedia; e. Cryprocarya; g. Cassytha
(hình theo J. G. Rohwer, 1993)

1.9. HẠT

Hạt được tạo thành do 2 lá noãn bằng nhau có màu trắng, hiếm khi màu hồng chứa nhiều dầu béo (Persea, Litsea, Lindera, Cinnamomum), carbonhydrad và protein. Lá đầu tiên của chồi mầm thường có lông và phát triển tốt, có kích thước lớn hơn so với những lá xuất hiện sau.

Typus: Laurus L.

Họ Long não (Lauraceae) trên thế giới có khoảng 50 chi với 2500-3000 loài, phân bố chủ yếu ở vùng nhiệt đới và cận nhiệt đới châu Á và châu Mỹ. Đây là một trong những họ đại diện cho rừng mưa nhiệt đới nên ít gặp các đại diện ở châu Phi và châu Âu. Các chi của họ ở châu Đại Dương ít, nhưng số loài lại tập trung nhiều ở một số chi (Cassytha, Endiandra). Ở Việt Nam hiện biết họ Long não có 21 chi, 273 loài, 32 thứ và 2 dạng, phân bố giảm dần từ Bắc xuống Nam. Một số chi (Potameia, Cinnadenia, Caryodaphnopsis, Endiandra) ít gặp ở phía Nam.

Đây là một họ có giá trị thực tiễn lớn, nhiều loài cho gỗ lớn, tốt, được sử dụng trong xây dựng ở các chi: Long não (Cinnamomum), Kháo (Machilus), Chắp (Beilschmiedia), Nô tam tầng (Neolitsea), Bời lời (Litsea). Nhiều loài được sử dụng làm thuốc, cho tinh dầu, dầu béo dùng trong công nghệ định hương, công nghệ xà phòng, thực phẩm, cho quả ăn được (Persea). Nhiều loài được sử dụng trồng rừng nhằm cải tạo môi trường.

2. HỆ THỐNG PHÂN LOẠI

Ngay từ đầu thế kỷ 18, họ Long não đã được C. Linnaeus (1753) đặt tên cho 2 chi: Chi Laurus với 11 loài được xếp vào nhóm 9 nhị và 1 nhuỵ (Enneandria monogyria), chi Cassytha với 1 loài xếp trong nhóm 3 nhị và 1 nhuỵ cùng với các chi trong các họ khác có chung đặc điểm này. Sắp xếp theo kiểu của C. Linnaeus cũng còn một số tác giả khác như Adanson (1763), J. Loureiro (1790). A. J. Jussieu (1789) chính thức thành lập họ Long não (Lauraceae) lấy từ tên chi Laurus L. Từ đây các taxon của họ Long não mới được sắp xếp theo trật tự nhất định. Sau khi họ Lauraceae được thành lập, có nhiều hệ thống phân loại về họ này xuất hiện, song thường theo 2 kiểu chính là: Kiểu thứ nhất: họ được chia thành các tông (tribus), từ tông đến các phân tông (subtribus) và đến các chi (genus). Tiêu biểu cho cách phân chia này là các tác giả E. Nees (1836), H. E. Baillon (1870), G. Bentham và J. D. Hooker f. (1880-1886), J. Hutchinson (1964). Trong các hệ thống phân chia theo kiểu trên, hệ thống G. Bentham và J. D. Hooker f. (1880-1886) được thịnh hành rất lâu. Họ Lauraceae ở Ấn Độ (1880) và Việt Nam (1913) sắp xếp theo hệ thống này. Kiểu phân chia thứ hai: họ được chia thành các phân họ (subfamily) đến tông (tribus), phân tông (subtribus) và đến các chi (genus). Tiêu biểu cho cách phân chia này là C. F. Meisner (1864) với 3 phân họ: Lauroideae, GyrocarpoideaeCassythoideae. Sau đó là các hệ thống của C. Mez (1889) gồm 2 phân họ LauroideaeCassythoideae, phân họ Gyrocarpoideae không còn trong hệ thống này và đã chuyển thành họ Gyrocarpaceae. I. Pax (1891) đưa ra hệ thống giống như của C. Mez (1889). Đặc biệt phải kể đến hệ thống của A. J. G. H. Kostermans (1957) đã phân chia họ Lauraceae thành 2 phân họ LauroideaeCassythoideae với 6 tông và 8 phân tông. Sau A. J. G. H. Kostermans (1957) còn một số hệ thống khác như: Melchior (1964), A. Takhtajan (1973, 1987, 1996), V. H. Heywood (1996) cũng được xây dựng trên cơ sở của hệ thống A. J. G. H. Kostermans (1957). Sau khi xem xét các hệ thống phân loại nhận thấy hệ thống của A. J. G. H. Kostermans (1957) là tương đối phù hợp để sắp xếp các taxon của họ Lauraceae ở Việt Nam. (bảng 1).

Bảng 1. HỆ THỐNG PHÂN LOẠI HỌ LONG NÃO (LAURACEAE Juss.) Ở VIỆT NAM
(2 phân họ, 5 tông, 6 phân tông, 21 chi, 273 loài, 32 thứ và 2 dạng)

Subfam.

Trib.

Subtrib.

Gen.

Subfam.1. Lauroideae
(4 tông,
6 phân tông, 20 chi,
271 loài,
32 thứ và
2 dạng)

Trib.1. Perseae
(2 phân tông,
10 chi,
101 loài,
6 thứ)

Subtrib.1. Perseineae
(6 chi, 59 loài,
3 thứ)

 

1. Persea
(1 loài)

2. Alseodaphne
(11 loài)

3. Nothaphoebe
(4 loài, 1 thứ)

4. Caryodaphnopsis
(6 loài)

5. Machilus
(23 loài, 2 thứ)

6. Phoebe
(14 loài)

Subtrib.2.
Beilschmiediineae
(4 chi, 42 loài,
3 thứ)

7. Beilschmiedia
(28 loài, 1 thứ)

8. Dehaasia
(9 loài, 2 thứ)

9. Endiandra
(4 loài)

10. Potameia
(1 loài)

Trib.2. Cinnamomeae
(1 phân tông, 2 chi, 53 loài, 2 thứ)

Subtrib.3.
Cinnamomineae
(2 chi, 53 loài,
2 thứ)

11. Cinnamomum
(49 loài, 2 thứ)

12. Neocinnamomum (4 loài)

Trib.3.
Litseeae
(2 phân tông, 7 chi, 95 loài, 23 thứ,
1 dạng)

Subtrib.4. Litseineae
(5 chi, 68 loài,
18 thứ, 1 dạng)

13. Cinnadenia
(1 loài)

14. Sassafras
(1 loài)

15. Litsea
(38 loài, 15 thứ,
1 dạng)

16. Actinodaphne
(10 loài, 1 thứ)

17. Neolitsea
(18 loài, 2 thứ)

Subtrib.5. Laureineae
(2 chi, 27 loài,
5 thứ)

18. Lindera
(26 loài, 5 thứ)

19. Laurus (1 loài)

Trib.4. Cryptocaryeae
(1 phân tông, 1 chi, 22 loài, 1 thứ,
1 dạng)

Subtrib.6.
Cryptocaryineae
(1 chi, 22 loài,
1 thứ, 1 dạng)

20. Cryptocarya
(22 loài, 1 thứ,
1 dạng)

Subfam.2.
Cassythoideae
(1 tông, 1 chi, 2 loài)

Trib.5. Cassytheae
(1 chi, 2 loài)

 

21. Cassytha
(2 loài)

 

Sách Thực vật chí khác
TẬP 21 - THỰC VẬT CHÍ VIỆT NAM - FLORA OF VIETNAM: HỌ GỪNG – ZINGIBERACEAE Lindl.
Tác giả: Nguyễn Quốc Bình
TẬP 20 - THỰC VẬT CHÍ VIỆT NAM - FLORA OF VIETNAM: HỌ LONG NÃO - LAURACEAE Juss
Tác giả: Nguyễn Kim Đào
TẬP 15 - THỰC VẬT CHÍ VIỆT NAM - FLORA OF VIETNAM: HỌ THIÊN LÝ – ASCLEPIADACEAE R. Br.
Tác giả: Trần Thế Bách
Tập 13 - THỰC VẬT CHÍ VIỆT NAM - FLORA OF VIETNAM: HỌ CAU – ARECACEAE Schultz-Sch.
Tác giả: Andrew Henderson, Trần Thị Phương Anh
TẬP 18 - THỰC VẬT CHÍ VIỆT NAM - FLORA OF VIETNAM: HỌ TAI VOI - GESNERIACEAE Dumort.
Tác giả: Vũ Xuân Phương
TẬP 19 - THỰC VẬT CHÍ VIỆT NAM - FLORA OF VIETNAM: HỌ CHÈ - THEACEAE D. Don
Tác giả: Nguyễn Hữu Hiến
TẬP 17 - THỰC VẬT CHÍ VIỆT NAM - FLORA OF VIETNAM: 2. HỌ MÃ TIỀN - LOGANIACEAE R.Br.ex Mart
Tác giả: Vũ Văn Hợp, Vũ Xuân Phương
TẬP 17 - THỰC VẬT CHÍ VIỆT NAM - FLORA OF VIETNAM: 1.HỌ CÀ - SOLANACEAE Juss.
Tác giả: Vũ Văn Hợp
TẬP 16 - THỰC VẬT CHÍ VIỆT NAM - FLORA OF VIETNAM: HỌ RÁY - ARACEAE Juss.
Tác giả: Nguyễn Văn Dư
TẬP 14 - THỰC VẬT CHÍ VIỆT NAM - FLORA OF VIETNAM: HỌ BÔNG - MALVACEAE Juss.
Tác giả: Đỗ Thị Xuyến
Tập 12 - THỰC VẬT CHÍ VIỆT NAM - FLORA OF VIETNAM: HỌ BỒ HÒN - SAPINDACEAE Juss.
Tác giả: Hà Minh Tâm