Tên Sách:

TẬP 18 - THỰC VẬT CHÍ VIỆT NAM - FLORA OF VIETNAM: HỌ TAI VOI - GESNERIACEAE Dumort.

GESNERIACEAE Dumort. 1822 – HỌ TAI VOI, KHỔ CỰ ĐÀI
(1 phân họ, 6 tông, 31 chi, 147 loài, 1 thứ)

MỞ ĐẦU

Họ Tai voi (Gesneriaceae Dumort.) trên thế giới có khoảng 140 chi với khoảng 3000 loài, phân bố chủ yếu ở các vùng nhiệt đới và cận nhiệt đới của châu Phi, Trung và Nam châu Mỹ, Đông Nam châu Á, châu Âu và châu Đại Dương. Ở Việt Nam, hiện biết có 31 chi với 147 loài, 1 thứ, phân bố rải rác trong cả nước; đặc biệt là ở các vùng núi đá vôi và núi đất các tỉnh phía bắc. Họ Tai voi là một họ có giá trị cả về khoa học cũng như giá trị sử dụng.

Họ Tai voi từ thế kỷ XVIII đã được khá nhiều tác giả nghiên cứu, song chỉ sau khi được Dumort. (1822) thành lập họ thì mới có những hệ thống phân loại ra đời. Có thể kể một số hệ thống chính như G. Bentham & J. D. Hooker (1876) phân chia họ Tai voi thành 2 tông là GesnereaeCyrtandreae với 5 phân tông, các tác giả sau đó đã nâng các tông thành phân họ và các phân tông thành tông. K. Fritsch (1895), H. Melchior (1964), A. Takhtajan (1987, 1996), V. H. Heywood (1996),... phân chia họ Tai voi (Gesneriaceae) thành 2 phân họ CyrtandroideaeGesnerioideae với các tông và phân tông. Khu vực Đông Nam Á hầu như các chi thuộc họ Tai voi đều nằm trong phân họ Cyrtandroideae.

Ở Đông Dương và Việt Nam từ trước năm 1970, những nghiên cứu về họ Gesneriaceae hầu như chỉ do người nước ngoài như J. Loureiro (1790), F. Pellegrin (1926, 1930) thực hiện. Từ năm 1954 trở về trước, các mẫu vật ở Việt Nam và Đông Dương chủ yếu do người nước ngoài thu thập. Từ 1970 đến nay, có một số công trình nghiên cứu của người Việt Nam như: Lê Khả Kế (1971), Phạm Hoàng Hộ (1970, 1993, 2000), Nguyễn Tiến Bân (1984, 1997), Vũ Xuân Phương (2004, 2005, 2006, 2007, 2008). Ngoài ra còn một số công trình nghiên cứu về giá trị sử dụng của họ Tai voi như Võ Văn Chi (1997, 2012), Đỗ Huy Bích và cộng sự (2004),...

Các nước lân cận với Việt Nam cũng có những công trình phân loại về họ Gesneriaceae như: C. B. Clarke (1883, 1884) nghiên cứu ở Ấn Độ, W. T. Wang (1990, 1998) nghiên cứu ở Trung Quốc, C. A. Barker & R. C. Kakhuizen (1965) nghiên cứu ở Inđônêxia và D. J. Middleton (2007) ở Thái Lan. Các tác giả Z. R. Xu & al. (2008);
B. L. Burtt (1954-2008) cũng đã xuất bản nhiều công trình nghiên cứu về các taxon trong họ Gesneriaceae trên thế giới, trong đó có khu vực châu Á và Việt Nam.

Thực vật chí Việt Nam, tập 18 - họ Tai voi (Gesneriaceae Dumort.) cho đến nay là công trình phân loại đầy đủ và có hệ thống được nghiên cứu cũng như cập nhật những thông tin mới nhất. Việc điều tra thu thập mẫu tiêu bản và tư liệu đã được tiến hành trên khắp lãnh thổ Việt Nam, đặc biệt các vùng núi đá vôi và núi đất các tỉnh phía Bắc. Trong quá trình nghiên cứu, chúng tôi đã sử dụng tất cả các tiêu bản và tư liệu hiện lưu trữ ở các phòng tiêu bản trong nước như Phòng Tiêu bản Viện Sinh thái và Tài nguyên sinh vật (HN), Phòng Tiêu bản Trường Đại học Khoa học Tự nhiên - Đại học Quốc gia Hà Nội (HNU), Phòng Tiêu bản Viện Dược liệu (HNPM), Phòng Tiêu bản Viện Điều tra quy hoạch rừng (HNF), Phòng Tiêu bản Viện Sinh học nhiệt đới Tp. Hồ Chí Minh (HM),… và các phòng tiêu bản nước ngoài như Phòng Tiêu bản Bảo tàng Lịch sử Tự nhiên Paris - Pháp (P), Phòng Tiêu bản Viện Thực vật Côn Minh - Trung Quốc (KUN), Phòng Tiêu bản Viện Thực vật Quảng Tây - Trung Quốc (IBK), Phòng Tiêu bản Viện Thực vật Hoa Nam - Trung Quốc (IBSC),… cũng như các quan hệ hợp tác quốc tế để trao đổi thông tin.

Tập sách dày 418 trang, trình bày một cách có hệ thống về họ Tai voi ở Việt Nam bao gồm giới thiệu đặc điểm hình thái các đại diện ở Việt Nam, kiểm kê các hệ thống phân loại và lựa chọn hệ thống cho nghiên cứu phân loại họ Tai voi (Gesneriaceae) ở Việt Nam; phần chủ yếu là các khoá định loại taxon. Mỗi taxon được trình bày danh pháp, synonym, đặc điểm hình thái, mẫu chuẩn, sinh học và sinh thái, phân bố trong và ngoài nước, mẫu nghiên cứu, giá trị sử dụng, các nhận xét (nếu có).

Bên cạnh đó là 151 hình vẽ về đặc điểm hình thái và các loài, 54 ảnh màu, các bảng tra tên khoa học và tên Việt Nam, tài liệu tham khảo.

Trong công trình còn tham khảo và trích dẫn tư liệu, hình vẽ, ảnh màu của các tác giả khác.

1. ĐẶC ĐIỂM HÌNH THÁI

1.1. THÂN: Gặp chủ yếu ở họ này là những cây thân cỏ sống một năm hay sống lâu, một số ít là cây bụi nhỏ (Anna, Rhynchotechum), sống phụ sinh trên cây gỗ (Aeschynanthus, Briggsia, Loxostigma, Lysionotus) hay sống bám trên đá, trên đất. Cây thường mọc đứng, một số ít mọc bò, hay treo thõng xuống (Aeschynanthus). Rễ thường gặp là rễ chùm; ở một số chi, số loài có thân hoá gỗ có rễ trụ (Anna, Rhynchotechum). Thân đơn hay phân nhánh hay gần như không thân với lá mọc thành hình hoa thị ở sát mặt đất (Oreocharis, Primulina, Boea, Petrocosmea,…). Thân và cành có thể nhẵn hay có lông.

1.2. LÁ: Lá đơn, với mép nguyên hay mép xẻ răng cưa nông hay sâu, hiếm khi gặp lá kép. Không có lá kèm. Lá thường mọc đối với các lá đối diện bằng nhau từng đôi một hay một lá lớn, một lá bé (Didymocarpus, Raphiocarpus, Anna, Loxostigma, Primulina), hay mọc cách do lá đối diện tiêu giảm (Epithema, Rhynchoglossum, Stauranthera, Billolivia). Một số chỉ có lá mọc vòng ở phía dưới sát mặt đất thành hình hoa thị (Boea, Primulina, Petrocosmea, Oreocharis,...). Lá nhẵn hay có lông với các hình thái lông khác nhau (lông đơn, lông đa bào, lông hình sao, lông tuyến, lông hình mạng); gân bên là hệ gân lông chim, hiếm khi là hệ gân hình cung hay gân chân vịt.

1.3. CỤM HOA:  Cụm hoa cơ sở thường là hình xim mang ít đến nhiều hoa, đôi khi xim tiêu giảm còn 1 hoa ở các nách lá (Primulina, Briggsia, Lysionotus), một số chi có cụm hoa là xim bọ cạp (Epithema, Stauranthera, Rhynchoglossum), nhiều chi có cụm hoa hình xim gần giống hình tán (Boeica, Oreocharis, Briggsia, Beccarinda, Hemiboea, Calcareoboea,...), hiếm khi là cụm hoa chùm (Rhynchotechum) hay chùy (Paraboea) hay hình bông (Pseudochirita) ở nách lá hay ở đỉnh cành. Lá bắc có hình thái, màu sắc thay đổi và đa dạng, to hay nhỏ, đôi khi lá bắc tập hợp ở dưới cụm hoa thành tổng bao (Anna, Hemiboea, Calcareoboea). (hình 1).

1.4. HOA: Đối xứng 2 bên hay đối xứng toả tròn (hoa đều).

Đài: Đều, hiếm khi đối xứng hai bên; đài thường 5 thuỳ (hiếm khi 4) dính với nhau nhiều hay ít, ở phía dưới thành hình ống, hình chuông hay các thuỳ đài xẻ sâu đến gốc. Đài thường tồn tại cùng với quả (đài đồng trưởng) hay sớm rụng. Đài nhẵn hay có lông với các hình thái lông giống như ở lá. (hình 2: 1-6).

Tràng: Hợp ở phía dưới thành hình ống, hình phễu hay hình chuông, 5 thuỳ tràng ở trên thường có cấu tạo 2 môi theo công thức 2/3 (môi trên 2 thuỳ, môi dưới 3 thuỳ), hiếm khi có cấu tạo 2 môi theo công thức 1/3 (Gyrocheilos) do 2 thuỳ môi trên hàn liền hay theo công thức 4/1 (Calcareoboea) môi trên 4 thuỳ, môi dưới 1 thuỳ ngắn hơn môi trên, hiếm khi gặp 5 thuỳ đều nhau (Conandron). Phía dưới ống tràng đôi khi phồng lên thành cái bướu hay cái cựa (Loxostigma, Boeica, Briggsia). Tiền khai hoa lợp. (hình 2: 7-14)

Hình 1. Một số hình thái cụm hoa họ Tai voi

1. xim 2 ngả; 2, 3. xim hai ngả kép; 4. xim bọ cạp; 5. xim bọ cạp kép; 6, 7. cụm hoa xim giống tán; 8. cụm hoa hình tháp

Bộ nhị: Nhị hữu thụ thường là 2 hay 4, hiếm khi 5 (Conandron), nếu là 4 thường có hình thái 2 nhị dài, 2 nhị ngắn (nhị 2 trội). 4 nhị có thể rời (Oreocharis, Boeica, Rhynchotechum, Episcia); cả 4 nhị chụm lại ở bao phấn (Beccarinda, Loxostigma, Aeschynanthus, Stauranthera); hay 4 nhị chụm lại thành từng đôi (Briggsia, Raphiocarpus, Aeschynanthus, Anna, Rhynchoglossum). Các chi có nhị hữu thụ 2 thì hầu hết chụm lại ở bao phấn (Pseudochirita, Hemiboea, Primulina, Lagarosolen, Calcareoboea, Didymocarpus, Gyrocheilos, Paraboea, Boea, Ornithoboea, Lysionotus, Epithema, Rhynchoglossum), hiếm khi 2 nhị rời (một vài loài Petrocosmea). Nhị bất thụ 1 hoặc 3, đôi khi tiêu giảm chỉ còn để lại dấu vết. Chỉ nhị hình sợi hay dày lên, dài hay ngắn, đính ở phía trên, phía dưới hay ở giữa ống tràng. Bao phấn 2 ô, song song hay doãng ra, đính gốc hay đính lưng. Triền tuyến mật hình vòng. (hình nhẫn), hình đấu, hình chén hay hình trụ, hiếm khi không có (Petrocosmea, Boea, Stauranthera). (hình 3).

Hình 2. Một số hình thái đài và tràng họ Tai voi

1, 2. đài 5 thuỳ xẻ đến gốc; 3, 4. đài 5 thuỳ hợp ở dưới; 5, 6. đài 2 môi: môi trên và môi dưới; 7, 8. tràng 5 thuỳ đều; 9-14. tràng 2 môi: môi trên và môi dưới

Hình 3. Một số hình thái nhị

1. nhị 5 rời; 2. nhị 4 rời; 3-6. nhị 4 chụm; 7. nhị 4 chụm thành từng đôi; 8. nhị 2 rời; 9, 10. nhị 2 chụm

Bộ nhuỵ: Bầu thượng (bầu trên), 1 ô với 2 giá noãn ở đỉnh, hiếm khi bầu 2 ô với 1 giá noãn (Hemiboea); noãn nhiều, đảo. Vòi nhuỵ 1, núm nhuỵ đa số 1, có các dạng hình đầu, cụt, thuôn, hình đĩa, hình phễu, hình lưỡi, hình quạt, hình thang ngược, hình tam giác ngược, hình móng ngựa,...; một số ít có núm nhuỵ xẻ 2 thuỳ, nông hay sâu, thuỳ bằng nhau hay không bằng nhau (Oreocharis, Briggsia, Raphiocarpus, Pseudochirita, Loxostigma,...). (hình 4).

Hình 4. Một số hình thái triền, bầu và núm nhuỵ họ Tai voi

1. triền hình chén, bầu hình cầu, núm nhuỵ hình đầu; 2. triền hình vòng, bầu thuôn, núm nhuỵ xẻ 2 thuỳ bằng nhau; 3. triền hình vòng xẻ thuỳ nông, bầu thuôn, núm nhuỵ hình đĩa; 4. triền không rõ, bầu hình đường thuôn, núm nhuỵ (2 thuỳ); 5. triền hình chén, bầu hình đường gần như có cuống, núm nhuỵ xẻ 2 thuỳ không bằng nhau, thuỳ lớn hình bản mỏng; 6. triền hình nhẫn, bầu hình đường; núm nhuỵ hình quạt; 7. triền hình vòng, bầu hình đường thuôn, núm nhuỵ hình cầu

1.5. QUẢ VÀ HẠT

Quả: Đa số là quả nang, mở bằng 2 hay 4 van theo chiều dọc xuống dưới, thường là thẳng, một số xoắn vặn (Paraboea, Boea, Ornithoboea,...), hiếm khi là quả nang mở bằng vách ngang (Stauranthera) hay quả mọng (Rhynchotechum, Billolivia). Quả nang thường dài, có hình trụ hay hình đường, chiều dài thường vượt hơn đài nhiều, hiếm khi ngắn hơn đài hay chỉ hơi dài hơn đài (Stauranthera, Rhynchoglossum, Epithema, Episcia). (hình 5).

 

Hình 5. Một số hình thái quả họ Tai voi

1. quả mọng gần hình cầu; 2. quả nang mở bằng vách ngăn; 3, 4. quả nang mang đài tồn tại; 5. quả nang mở bằng 2 van không xoắn; 6. quả nang mở 4 van không xoắn; 7. quả nang mở xoắn vặn

Hạt: Hạt nhỏ, hình thoi, hình bầu dục hay hình trứng, gần hình cầu, có hay không có phần phụ là các lông ở hai đầu, lông mềm hay lông cứng, dài hay ngắn như mũi khoan ở 1 đầu hay ở cả 2 đầu (Aeschynanthus, Anna, Loxostigma, Lysionotus). Phôi thẳng, rễ mầm ngược, lá mầm bằng hay không bằng nhau khi nảy mầm. (hình 6).

Typus: Gesneria L.

Hình 6. Một số hình thái hạt họ Tai voi

1. hạt không có lông ở hai đầu; 2. hạt có mụn sần; 3. hạt 2 đầu nhọn ngắn; 4. hạt có gân mạng; 5. hạt mỗi đầu có một lông cứng ngắn; 6. hạt mỗi đầu có một lông mềm; 7. hạt mỗi đầu có một lông cứng dài; 8. hạt mỗi đầu có một lông mềm dài; 9. hạt một đầu có hai lông, đầu đối diện có một lông dài; 10. hạt một đầu có nhiều lông mềm, đầu đối diện có một lông.

2. HỆ THỐNG PHÂN LOẠI

Khi nghiên cứu hệ thống phân loại họ Gesneriaceae của một số tác giả, nhận thấy có thể tổng hợp thành 2 quan điểm khác nhau, có liên quan đến khối lượng của họ này cũng như sự phân chia chúng thành các taxon bậc thấp hơn.

2.1. Quan điểm thứ 1

Họ Tai voi được chia thành 2 tông (Tribus) và sau đó được chia tiếp thành các phân tông (Subtribus). Thuộc loại này có hệ thống của G. Bentham & J. D. Hooker (1876) và một số tác giả sau đó.

+ Tông 1 (Tribus 1. Gesnereae): gồm 4 phân tông (Subtribus) là Bellonieae, Gloxinieae, EugesnereaePentarhaphieae.

+ Tông 2 (Tribus 2. Cyrtandreae): gồm 5 phân tông (Subtribus) là Columneae, Eucyrtandreae, Aeschynantheae, Beslerieae Didymocarpeae.

Hệ thống trên đã thịnh hành trong một thời gian dài cho đến đầu thế kỷ thứ XX.

2.2. Quan điểm thứ 2

Họ Tai voi được chia thành 2 phân họ (Subfamilia), các phân họ lại được chia thành các tông (Tribus). Thuộc xu hướng này đầu tiên phải kể đến công trình của K. Fritsch (1895) sau đó là của H. Melchior (1964) và các tác giả tiếp sau như A. Takhtajan (1987, 1996), V. H. Heywood (1996),… Các tác giả cho rằng, họ Tai voi có khoảng 125-140 chi với 3000 loài. Theo quan điểm này, họ Tai voi được phân chia như sau:

+ Phân họ 1 (Subfam. 1. Cyrtandroideae) gồm 11 tông là: Ramondeae, Didymocarpeae, Championideae, Streptocarpeae, Aeschynantheae (Trichosporeae), Klugieae, Hemiboeeae, Beslerieae, Coronanthereae, Cyrtandreae, Columneae.

+ Phân họ 2 (Subfam. 2. Gesnerioideae): gồm 6 tông là: Bellonieae, Gloxinieae, Kohlerieae, Simningieae, Solenophoreae, Gesnerieae.

Sau khi xem xét các hệ thống đã có, có thể nhận thấy, cách phân chia theo quan điểm thứ 2 (chia thành 2 phân họ, rồi chia thành các tông) là hợp lý, nên hầu hết các nhà phân loại về họ Tai voi đã áp dụng cách phân chia này. Trong công trình này, họ Tai voi (Gesneriaceae) ở Việt Nam, đã được sắp xếp theo hệ thống của H. Melchior (1964). Theo đó các chi của họ Tai voi được sắp xếp trong 2 phân họ là Cyrtandroideae (11 tông) và Gesnerioideae (6 tông). Các chi thường gặp ở các nước thuộc Đông và Nam châu Á chỉ nằm trong phân họ Cyrtandroideae, không gặp ở phân họ Gesnerioideae. Dựa vào hệ thống của H. Melchior (1964) các chi ở Việt Nam đã được xếp theo hệ thống dưới đây (bảng 1):

Bảng 1. HỆ THỐNG PHÂN LOẠI HỌ TAI VOI (GESNERIACEAE) (Subfam. CYRTANDROIDEAE) Ở VIỆT NAM

(1 phân họ, 6 tông, 31 chi, 147 loài, 1 thứ)

Dưới đây là những đặc điểm chính của các taxon bậc tông (tribus) ở Việt Nam:

- Trib.1. Ramondieae Fritsch: Lá mọc từ gốc. Cụm hoa hình xim. Hoa đều. Tràng hình chuông hay hình bánh xe. Nhị hữu thụ 5. Quả nang. Hạt không có phần phụ hình lông hay hình mũi khoan.

- Trib.2. Didymocarpeae Endl.: Lá mọc từ gốc hay mọc từ thân, nếu lá mọc dọc từ thân thì thường mọc đối, ít khi mọc cách. Cụm hoa xim. Hoa đối xứng hai bên. Tràng thường cấu tạo 2 môi 2/3 hay 1/4. Nhị hữu thụ 2 hay 4; nhị bất thụ 3 hay 1. Bầu hình trụ, hình đường ít khi hình trứng. Quả nang. Hạt không có phần phụ hình lông hay hình mũi khoan.

- Trib.3. Trichosporeae Fritsch (Aeschynantheae): Lá mọc đối hay mọc vòng. Cụm hoa hình xim. Hoa đối xứng hai bên. Nhị hữu thụ 2 hay 4; nhị bất thụ 3 hay 1. Bầu hình đường hay hình trụ. Quả nang. Hạt có phần phụ hình lông hay hình mũi khoan ở
2 đầu.

- Trib.4. Cyrtandreae Blume: Lá mọc đối hay mọc cách (Billolivia). Cụm hoa hình xim. Hoa đối xứng hai bên. Tràng có cấu tạo 2 môi 2/3. Nhị hữu thụ 2 hay 4; nhị thoái hoá 3 hay 1. Quả mọng không mở. Hạt không có phần phụ.

- Trib.5. Klugieae Fritsch: Lá mọc đối có kích thước không bằng nhau từng đôi một hay mọc cách; gốc lá rất lệch. Cụm hoa hình xim hai ngả hay xim bọ cạp. Hoa đối xứng hai bên. Nhị hữu thụ 2 hay 4; nhị bất thụ 3 hay 1. Bầu hình cầu hay hình trứng. Quả nang. Hạt không có phần phụ hình lông hay hình mũi khoan.

- Trib.6. Columneae Fritsch: Lá mọc đối hay mọc vòng. Cụm hoa hình xim. Hoa đối xứng hai bên. Tràng có cấu tạo 2 môi 2/3. Nhị hữu thu 4. Triền tuyến mật không có hình vòng hay hình chén. Quả nang. Hạt không có phần phụ.

KHOÁ ĐỊNH LOẠI CÁC CHI THUỘC HỌ GESNERIACEAE Ở VIỆT NAM

1A. Triền tuyến mật hình vòng hay hình chén, hiếm khi không có.  
2A. Hoa đều, nhị 5 hữu thụ

(Trib.1. Ramondieae)

 1. CONANDRON

2B. Hoa đối xứng 2 bên, nhị hữu thụ 2 hay 4; nhị bất thụ 3 hay 1.  
3A. Cụm hoa hình xim 2 ngả hay xim giống hình tán. Bầu hình trụ hay hình đường vượt hơn đài, hiếm khi hình cầu hay trứng, đỉnh bầu nhỏ dần thành vòi nhuỵ. Lá mọc đối hay mọc vòng, gốc phiến ít khi lệch.  
4A.  Quả nang mở bằng 2 van hay 4 van.  
5A. Hạt không có phần phụ hình lông hay hình mũi khoan ở đầu. (Trib.2. Didymocarpeae).
6A. Nhị hữu thụ 4, rời hay từng đôi nhị chụm lại hoặc cả 4 nhị chụm lại ở bao phấn; nhị bất thụ 1.  
7A. Nhị hữu thụ 4, rời, nhị bất thụ 1.  
8A. Lá mọc đối hay gần như mọc cách dọc thân; tràng 2 môi (2/3); môi trên 2 thuỳ, môi dưới 3 thuỳ; ống tràng phình to ở dưới (có bướu) 2. BOEICA
8B. Lá tập trung ở dưới gốc; tràng 2 môi (2/3), ống tràng không phình to ở dưới (không có bướu) 3. OREOCHARIS
7B. Nhị hữu thụ 4, chụm lại thành từng đôi hay cả 4 nhị chụm lại ở bao phấn.  
9A. Nhị hữu thụ 4, chụm lại thành từng đôi. Lá mọc chụm ở gốc hay dọc thân.  
​10A. Núm nhuỵ xẻ 2 thuỳ không rõ.  
11A. Lá mọc chụm ở gốc. Cụm hoa xim giống tán; tràng hình ống phình to ở dưới. 4. BRIGGSIA
11B. Lá mọc đối dọc thân, các lá đối diện thường không bằng nhau. Cụm hoa hình xim, tràng hình phễu, không phình ở dưới. 5. RAPHIOCARPUS
10B. Núm nhuỵ không xẻ thuỳ hình thang, gốc núm nhuỵ xẻ lệch một bên như có khuyết  6. CATHAYANTHE
9B. Nhị hữu thụ 4, cả 4 nhị đều chụm lại. Lá mọc chụm ở gốc 7. BECCARINDA
6B.  Nhị hữu thụ 2, rời hay chụm lại ở bao phấn, nhị bất thụ 3.  
12A. Quả nang khi chín mở không xoắn vặn.  
13A. Lá bắc lớn thành tổng bao hình cầu ở dưới; quả nghiêng một góc so với cuống.  8. HEMIBOEA
13B. Lá bắc nhỏ, mọc đối, không tạo thành tổng bao; quả thẳng với cuống ở trên cùng một mặt phẳng  
14A. Bầu hình tròn hay hình trái xoan hay hình trứng; nhị 2, chụm hay không chụm lại ở bao phấn; ống tràng và thuỳ tràng dài gần bằng nhau. 9. PETROCOSMEA
14B. Bầu hình trụ hay hình đường; nhị 2, chụm lại ở bao phấn; ống tràng dài hơn thuỳ tràng.  
15A. Núm nhuỵ xẻ 2 thuỳ.  
16A. Bao phấn đính lưng; triền tuyến mật hình vòng; quả mở bằng 2 van hay 4 van.  
17A. Cụm hoa giống hình tán, thuỳ của tràng tròn hay tù, môi dưới của tràng hiếm khi dài gấp 2 lần môi trên.  
18A. Đài hợp ở phía dưới thành ống nên các thuỳ đài không xẻ tới gốc 10. HENCKELIA
18B. Đài không hợp ở phía dưới thành ống nên các thuỳ đài xẻ sâu
tới gốc.
 
19A. Cây thường không thân, lá mọc chụm ở gốc, nếu có thân lá mọc chụm ở ngọn  11. PRIMULINA
19B. Cây thường có thân, lá mọc đối dọc theo thân 12. MICROCHIRITA
17B. Cụm hoa hình xim, thuỳ của tràng nhọn, môi dưới của tràng dài gấp 2 lần môi trên. 13. LAGAROSOLEN
16B. Bao phấn đính gốc; triền tuyến mật hình cái cốc; quả mở bằng 2 van  14. PSEUDOCHIRITA
15B. Núm nhuỵ nguyên.  
20A. Môi trên của tràng xẻ 2 hay 4 thuỳ.  
21A. Tràng 2 môi (4/1) môi trên 4 thuỳ, môi dưới 1 thuỳ; lá bắc tạo thành vòng hình tổng bao ở dưới. 15. CALCAREOBOEA
21B. Tràng 2 môi (2/3) môi trên 2 thuỳ, môi dưới 3 thuỳ; lá bắc 2, mọc đối 16. DIDYMOCARPUS
20B. Môi trên của tràng nguyên, môi dưới 3 thuỳ. 17. GYROCHEILOS
12B. Quả nang khi chín thường mở xoắn vặn.  
22A. Môi trên và môi dưới của tràng dài gần bằng nhau; mặt trong môi dưới không có lông.  
23A. Mặt dưới lá có lông mềm như mạng nhện. Quả nang chín mở bằng 4 van. 18. PARABOEA
23B. Mặt dưới lá không có lông mềm như mạng nhện. Quả nang chín mở bằng 2 van  19. BOEA
22B. Môi trên của tràng ngắn hơn môi dưới nhiều lần; mặt trong môi dưới có lông dài  20. ORNITHOBOEA
5B. Hạt có phần phụ hình lông hay hình mũi khoan ở đầu.  (Trib.3. Trichosporeae).
24A. Nhị hữu thụ 4, chụm lại thành từng đôi hay cả 4 nhị chụm lại.  
25A. Núm nhuỵ nguyên hay xẻ 2 thuỳ rất ngắn; hạt không có cuống.  
26A. Hạt có phần phụ là các lông dài ở 2 đầu; lá bắc nhỏ không tạo thành tổng bao hình cầu  21. AESCHYNANTHUS
26B. Hạt có phần phụ ngắn hình mũi khoan; lá bắc lớn làm thành tổng bao ở giai đoạn nụ  22. ANNA
25B. Núm nhuỵ xẻ 2 thuỳ dài và nhọn; hạt có cuống, mỗi đầu có 1 phần phụ rất ngắn. 23. LOXOSTIGMA
24B. Nhị hữu thụ 2, chụm lại. 24. LYSIONOTUS
4B.  Quả mọng, không mở (Trib.4. Cyrtandreae).
27A. Nhị hữu thụ 4 không chụm lại; lá mọc đối hay mọc vòng 25. RHYNCHOTECHUM
27B. Nhị hữu thụ 2 chụm lại ở đỉnh. Lá mọc cách. 26. BILLOLIVIA
3B. Cụm hoa xim bọ cạp. Bầu hình cầu hay hình trứng, hiếm khi vượt hơn đài, đỉnh bầu thót đột ngột thành vòi nhuỵ. Lá mọc đối, từng đôi lá không bằng nhau hay mọc cách, gốc phiến thường lệch (Trib.5. Klugieae).
28A.  Lá phía trên mọc đối; nhị hữu thụ 2, chụm lại. 27. EPITHEMA
28B. Lá phía trên mọc cách; nhị hữu thụ 2 hoặc 4, chụm lại; cụm hoa hình xim 2 ngả hay hình xim bọ cạp.  
29A. Ống tràng không phồng lên ở phía dưới thành bướu; nhị 2 chụm lại. 28. RHYNCHOGLOSSUM
29B. Ống tràng phồng lên ở phía dưới; nhị 4 tất cả chụm lại. 29. STAURANTHERA
1B. Triền tuyến mật không có hình vòng nhưng có 1-2 tuyến lớn ở phía lưng, 1-3 tuyến nhỏ ở phía bụng (Trib.6. Columneae). Lá mọc đối hay mọc vòng, đài 5 thuỳ, tràng 2 môi 2/3, nhị 4; quả nang mở bằng 2 van (chi nhập nội). 30. EPISCIA
  Chi bổ sung cho hệ thực vật Việt Nam

 (Trib. Didymocarpeae)

31. OPITHANDRA

 

 

Sách Thực vật chí khác
TẬP 21 - THỰC VẬT CHÍ VIỆT NAM - FLORA OF VIETNAM: HỌ GỪNG – ZINGIBERACEAE Lindl.
Tác giả: Nguyễn Quốc Bình
TẬP 20 - THỰC VẬT CHÍ VIỆT NAM - FLORA OF VIETNAM: HỌ LONG NÃO - LAURACEAE Juss
Tác giả: Nguyễn Kim Đào
TẬP 15 - THỰC VẬT CHÍ VIỆT NAM - FLORA OF VIETNAM: HỌ THIÊN LÝ – ASCLEPIADACEAE R. Br.
Tác giả: Trần Thế Bách
Tập 13 - THỰC VẬT CHÍ VIỆT NAM - FLORA OF VIETNAM: HỌ CAU – ARECACEAE Schultz-Sch.
Tác giả: Andrew Henderson, Trần Thị Phương Anh
TẬP 18 - THỰC VẬT CHÍ VIỆT NAM - FLORA OF VIETNAM: HỌ TAI VOI - GESNERIACEAE Dumort.
Tác giả: Vũ Xuân Phương
TẬP 19 - THỰC VẬT CHÍ VIỆT NAM - FLORA OF VIETNAM: HỌ CHÈ - THEACEAE D. Don
Tác giả: Nguyễn Hữu Hiến
TẬP 17 - THỰC VẬT CHÍ VIỆT NAM - FLORA OF VIETNAM: 2. HỌ MÃ TIỀN - LOGANIACEAE R.Br.ex Mart
Tác giả: Vũ Văn Hợp, Vũ Xuân Phương
TẬP 17 - THỰC VẬT CHÍ VIỆT NAM - FLORA OF VIETNAM: 1.HỌ CÀ - SOLANACEAE Juss.
Tác giả: Vũ Văn Hợp
TẬP 16 - THỰC VẬT CHÍ VIỆT NAM - FLORA OF VIETNAM: HỌ RÁY - ARACEAE Juss.
Tác giả: Nguyễn Văn Dư
TẬP 14 - THỰC VẬT CHÍ VIỆT NAM - FLORA OF VIETNAM: HỌ BÔNG - MALVACEAE Juss.
Tác giả: Đỗ Thị Xuyến
Tập 12 - THỰC VẬT CHÍ VIỆT NAM - FLORA OF VIETNAM: HỌ BỒ HÒN - SAPINDACEAE Juss.
Tác giả: Hà Minh Tâm