TẬP 17 - THỰC VẬT CHÍ VIỆT NAM - FLORA OF VIETNAM: 1.HỌ CÀ - SOLANACEAE Juss.
MỞ ĐẦU
Họ Cà (Solanaceae Juss.) có khoảng 96 chi với 2300 loài, phân bố ở hầu khắp các khu vực trên thế giới, nhưng chủ yếu là ở Nam Mỹ. Họ Cà ở Việt Nam có khoảng 16 chi với 64 loài, 15 thứ, phân bố phổ biến khắp trong cả nước. Giá trị tài nguyên của họ Cà khá quan trọng như làm thuốc, rau ăn, làm cảnh,…
Các công trình nghiên cứu về hệ thống phân loại của họ Cà (Solanaceae) đã được bắt đầu từ rất sớm bởi các tác giả C. Linneaus (1753), A. Jussieu (1789), R. Brown (1810), G. Kuntze (1818),… Sau đó là hàng loạt các tác giả đã đưa ra các quan điểm khác nhau về hệ thống phân loại trong họ Cà. Đáng chú ý trong số đó là G. Bentham & J. D. Hooker (1864), H. Melchior (1964), V. H. Heywood (1993), A. L. Takhtajan (1981, 1987, 1996).
Ở Việt Nam các công trình nghiên cứu phân loại đầu tiên về họ Cà (Solanaceae) được tiến hành bởi những tác giả người nước ngoài như J. Loureiro (1790), G. Bonati (1915-1927). Gần đây một số công trình của tác giả Việt Nam liên quan đến họ Cà đã bổ sung thêm nhiều taxon cho hệ thực vật Việt Nam như Phạm Hoàng Hộ (1972, 1993, 1999), Lê Khả Kế (1974), Nguyễn Văn Phú (1984), Nguyễn Thị Nhan (1996), Nguyễn Tiến Bân (1997), Vũ Văn Hợp & Nguyễn Thị Nhan (2005). Ngoài ra còn có một số công trình về giá trị sử dụng của họ Cà như Đỗ Tất Lợi (1995), Võ Văn Chi (1997, 2012),…
Ở một số nước trong khu vực Đông Nam Á cũng đã có những nghiên cứu về phân loại họ Cà (Solanaceae) như các công trình của S. Kurz (Mianma, 1877), C. A. Backer & R. C. Backhuizen van den Brink Jr. (Inđônêxia, 1965), K. Z. Kuang & A. M. Lu (Trung Quốc, 1978),...
Công trình phân loại đầy đủ và hệ thống về họ Cà (Solanaceae) trong Thực vật chí Việt Nam tập 17 (phần 1) là kết quả điều tra thu thập tiêu bản và tư liệu trên khắp lãnh thổ Việt Nam, đồng thời đã nghiên cứu tiêu bản và tư liệu ở các phòng tiêu bản trong cả nước như Viện Sinh thái và Tài nguyên sinh vật (HN), Trường Đại học Khoa học Tự nhiên (Đại học Quốc gia Hà Nội) (HNU), Viện Dược liệu (HNPM), Trường Đại học Dược Hà Nội (HNPI), Viện Sinh học nhiệt đới Tp. Hồ Chí Minh (HM), và một số phòng tiêu bản ngoài nước như Viện thực vật Côn Minh (Trung Quốc) (KUN).
Phần 1 tập sách dày 218 trang, trình bày nội dung cho một công trình là hệ thống phân loại họ Cà ở Việt Nam bao gồm: 1: Giới thiệu đặc điểm hình thái các đại diện ở Việt Nam, 2: Kiểm kê và lựa chọn hệ thống phân loại phù hợp với xu hướng tiến hoá của họ Cà, 3: Các khoá định loại các taxon, 4: Mô tả các taxon, trong đó mỗi taxon được trình bày về: danh pháp, synonym, đặc điểm hình thái, mẫu chuẩn, sinh học và sinh thái, phân bố trong và ngoài nước, mẫu nghiên cứu, giá trị sử dụng, các nhận xét (nếu có). Bên cạnh đó là 65 hình vẽ, 28 ảnh màu, các bảng tra tên khoa học và Việt Nam, tài liệu tham khảo chính.
Công trình có tham khảo và trích dẫn tư liệu, hình vẽ, ảnh màu của các tác giả khác.
1. ĐẶC ĐIỂM HÌNH THÁI
1.1. THÂN CÂY
Dạng sống chủ yếu trong họ Solanaceae là thân cỏ một hoặc nhiều năm, cây bụi đứng hay bụi trườn, rất hiếm khi dây leo (Solanum), cũng có khi là cây gỗ nhỏ (Solanum erianthum). Thân có lông, hiếm khi không lông, nhiều khi có gai (Lycium và Solanum).
1.2. LÁ (hình 1)
Lá mọc cách, đơn hoặc từng cặp không đều (Lycianthes và Solanum), rất hiếm khi mọc thành cụm ở mấu (Lycium ruthenicum). Lá đơn, không có lá kèm; mép lá thường nguyên, đôi khi có răng (Solanum và Datura) hay có thùy hoặc xẻ thùy (Solanum, Lycopersicon).
1.3. CỤM HOA (hình 2-4)
Cụm hoa thường tập hợp ở nách lá, ngoài nách lá, đối diện với lá hay ở đỉnh cành, có nhiều hình dạng khác nhau: cụm hoa xim, cụm hoa chùm hay chỉ là hoa (mọc) đơn độc. Một số chi có cụm hoa đặc trưng riêng, nhưng cũng có chi lại vừa có cụm hoa xim lại vừa có cụm hoa chùm (Solanum). Cụm hoa trong họ Solanaceae ở Việt Nam có các hình thái sau:
- Cụm hoa hình xim (hình 2, 4)
+ Hình xim bọ cạp (cincinnus): Là cụm hoa ở đỉnh một ngả kép, khi dưới hoa đỉnh các xim của những bậc kế tiếp nhau xuất phát chỉ về một phía so với trục chính (Solanum, Browallia).
+ Hình xim bọ cạp (kép) ghép cặp (dicincinnus geminatus-cincinnus duplex geminatus): Khi các xim bọ cạp đơn vị mọc toả ra đối diện nhau qua trục chính (Solanum tuberosum).
+ Hình xim hai ngả kép của xim bọ cạp (dichasium duplex cincinorum): Trục chính, các trục bên cấp II, cấp III đều không có hoa đỉnh, phân nhánh kiểu lưỡng phân; các hoa mọc về một phía (theo kiểu đơn phân) trên các trục con (trục cấp IV) (Solanum).

Hình 1. Hình thái lá của một số đại diện họ Solanaceae ở Việt Nam
1. lá đơn mọc thành từng cặp không đều (Lycianthes biflora); 2. lá có thùy, có gai (Solanum incanum); 3. lá đơn, xẻ thùy lông chim đứt đoạn (Solanum tuberosum); 4. lá đơn, mọc cách, mép lá nguyên (Solanum erianthum); 5. lá chụm thành bó trên chồi ngắn (Lycium ruthenicum); 6. lá kép lông chim (Lycopersicon esculentum)

Hình 2. Sơ đồ giả định về tiến hoá các hình thái cụm hoa xim
của họ Solanaceae ở Việt Nam
1. xim hai ngả đơn; 2. xim bọ cạp đơn; 3. xim bó; 4. xim hai ngả kép của xim bọ cạp; 5. hoa (mọc) đơn độc; 6. xim bọ cạp (kép) ghép cặp

Hình 3. Sơ đồ các hình thái cụm hoa chùm của họ Solanaceae ở Việt Nam
1. chùm đơn; 2. tán đơn; 3. chùm phân nhánh; 4. chùy
+ Hình xim bó (fasciculus): Là dạng thoái hoá mạnh (do rút ngắn các gióng, thường là gióng của trục chính) của xim hai ngả (Capsicum, Tubocapsicum và Lycianthes).
- Cụm hoa hình chùm (hình 3, 4)

Hình 4. Một số hình thái cụm hoa của họ Solanaceae ở Việt Nam
1. chùm đơn (Solanum violaceum); 2. chùy (Cestrum nocturnum); 3. tán đơn (Solanum nigrum); 4. hoa mọc đơn độc (Physalis alkekengi); 5. xim bó (Tubocapsicum anomalum); 6. xim bọ cạp đơn vị (Solanum incanum); 7. xim hai ngả kép của xim bọ cạp (Solanum dulcamara)
+ Hình chùm (racemus): Là một cụm hoa bên, trong đó có các gióng của trục cụm hoa phát triển và các hoa đều có cuống riêng (Solanum, Lycopersicon, Cyphomandra). Ngoài ra, còn có hiện tượng trục chính không kéo dài mà thường phân thành hai nhánh; mỗi nhánh này là một chùm đơn (Lycopersicon, Cyphomandra hay Solanum torvum).
+ Hình chùy (panicula): Là một cụm hoa phức tạp phân nhánh mạnh, có cụm hoa bộ phận nguồn gốc chùm (Solanum, Cestrum và Nicotiana).
+ Hình tán (umbella): Là một dạng của chùm, nhưng ở đây trục cụm hoa bị rút ngắn, do đó các cuống hoa đều nằm ở đỉnh của cuống cụm hoa (Solanum).
- Hoa (mọc) đơn độc (monas) (hình 2 và 4): Hoa (mọc) đơn độc trong họ Solanaceae thường ở nách lá hay chạc nhánh, hiếm khi ở ngoài nách lá hay ở đỉnh cành (Lycium, Capsicum, Physalis, Solanum, Datura, Brugmansia, Petunia, Browallia, Brunfelsia). Hoa (mọc) đơn độc trong họ Solanaceae rất có thể là do cụm hoa xim bị tiêu giảm các hoa bên tạo thành. Bởi vì ở nhiều chi hay thậm chí trong cùng một loài có thể thấy vừa tồn tại dạng cụm hoa bó (một dạng của xim) lại vừa tồn tại cả hoa (mọc) đơn độc (Lycium, Capsicum, Lycianthes); hay trong cùng một loài vừa có cụm hoa xim bọ cạp lại vừa có cả hoa (mọc) đơn độc (Solanum, Browallia). Một số loài ở dạng này có hiện tượng trên cùng một cụm hoa chỉ có hoa lưỡng tính ở đỉnh, còn lại các hoa phân nhánh của chùm bọ cạp là hoa đực (Solanum album, S. incanum, S. melongena hay S. viarum). Cũng có loài trên cuống hoa vẫn tồn tại dấu vết các cuống hoa đã bị tiêu giảm (Brunfelsia pauciflora).
- Lá bắc: Chỉ gặp ở các chi Nicotiana và Cestrum.
1.4. HOA (hình 5)
Hoa phần lớn lưỡng tính, đôi khi cả hoa lưỡng tính và hoa đực cùng xuất hiện trên một cụm hoa (Solanum). Hoa thường đều, đôi khi hơi không đều. Hoa thường mẫu 5, hiếm khi mẫu 4 (Solanum procumbens) hay mẫu 6-9 (Lycopersicon esculentum).
1.4.1. Đài
+ Đài hoa hợp thành hình chuông, hình chén hay hình ống; phần lớn có thùy hoặc có răng (Lycianthes), đôi khi không (Lycianthes bigeminata và Tubocapsicum anomalum).
+ Đài tồn tại cùng với quả, đôi khi còn phát triển cùng với sự lớn lên của quả (Physalis và Solanum) hay có khi nứt theo đường vòng chỉ giữ lại phần gốc (Datura).

Hình 5. Một số hình thái tràng, nhị, bao phấn, bầu và núm nhụy của họ Solanaceae ở Việt Nam
1-5. tràng: 1. tràng hình chuông (Physalis minima); 2. tràng hình bánh xe (Solanum album); 3. tràng hình ống (Nicotiana rustica); 4. tràng hình phễu (Datura metel); 5. tràng hình ống hẹp, miệng loe rộng (Browallia americana); 6-9. nhị: 6. nhị 5 đều (Lycianthes neesiana); 7. nhị 5 không đều (Petunia x hybrida); 8. nhị 4 đều (Solanum procumbens); 9. nhị 4 không đều (Browallia americana); 10-16. bao phấn: 10. Bao phấn hình trứng (Tubocapsicum anomalum); 11. bao phấn hình bầu dục (Cyphomandra betacea); 12. bao phấn hình thuôn (Physalis peruviana); 13. bao phấn hình mũi mác (Solanum mammosum); 14. bao phấn hình đường (Brugmansia suaveolens); 15. bao phấn mở dọc (Nicotiana tabacum); 16. bao phấn mở lỗ ở đỉnh (Solanum robinsonii); 17, 18. bầu: bầu 2 ô (17. cắt ngang, 18. cắt dọc) (Lycium chinense); 19-22. núm nhụy: 19. núm nhụy hình đầu (Tubocapsicum anomalum); 20. núm nhụy cụt (Cyphomandra betacea); 21. núm nhụy nới rộng, hình mũi mác (Brugmansia suaveolens); 22. núm nhụy 2 thùy (Nicotiana tabacum)
1.4.2. Tràng
Trong họ Solanaceae, tràng có thể được phân chia thành hai nhóm chính:
+ Tràng hình chuông, hình bánh xe hay hình phễu ngắn. Nhóm này gồm các chi có ống tràng không kéo dài; ống tràng thường có chiều dài tương đương với thùy tràng (Capsicum, Tubocapsicum, Lycianthes, Lycium và Solanum); đôi khi ống tràng có chiều dài lớn hơn thùy tràng-tràng xẻ thùy nông (Physalis, Lycium và Solanum) hay ống tràng có chiều dài nhỏ hơn thùy tràng nhiều lần-tràng xẻ thùy sâu (Cyphomandra, Lycopersicon và Solanum).
+ Tràng hình ống hay hình phễu dài. Nhóm này gồm các chi có ống tràng kéo dài; ống tràng dài gấp nhiều lần thùy tràng (Datura, Brugmansia, Cestrum, Nicotiana, Petunia, Brunfelsia và Browallia).
1.4.3. Bộ nhị
Nhị thường 5, đôi khi 4 (Solanum procumbens, Browallia americana, Brunfelsia pauciflora), đính trên ống tràng và thường nhiều như thùy tràng, toàn bộ giống nhau hoặc 1 tiêu giảm hơn nhiều, cũng có khi số lượng nhị không giống với thùy tràng (Browallia americana, Brunfelsia pauciflora). Bao phấn hình trứng, hình bầu dục hoặc hình mũi mác, mở dọc hoặc mở lỗ ở đỉnh (Solanum và Lycianthes).
1.4.4. Bộ nhụy
Bầu thường 2 ô, đôi khi 3-5 ô; noãn nhiều, đính trụ giữa. Vòi nhụy 1. Núm nhụy cụt, hình đầu, 2 thùy,...
1.5. QUẢ (hình 6)
Trong họ Solanaceae có hai loại quả: Quả mọng và quả nang.
+ Quả mọng hình cầu, hình bầu dục, hình bầu dục hẹp (Lycium, Physalis, Capsicum, Tubocapsicum, Solanum, Lycianthes, Lycopersicon, Cestrum), cũng có khi có hình dạng khác gặp ở các loài cây trồng (Solanum và Capsicum) hoặc có vú (Solanum mammosum), thường nhẵn cũng có khi có lông (Solanum ferox, Solanum lasiocarpum).
+ Quả nang: mở bằng 2 van (Nicotiana, Petunia, Browallia) hay 4 van (Datura).

Hình 6. Một số hình thái quả, đài ở quả, phôi của họ Solanaceae ở Việt Nam
1-8. quả mọng: 1. hình cầu (Solanum lyratum); 2. hình trứng (Solanum laciniatum); 3. hình bầu dục (Cyphomandra betacea); 4. hình bầu dục hẹp (Lycium chinense); 5. hình thuôn dài (Capsicum frutescens); 6. quả có vú (Solanum mammosum); 7. quả hình dái dê (Solanum melongena); 8. quả có lông (Solanum lasiocarpum); 9, 10. quả nang: 9. quả nang mở bằng 2 van (Petunia x hybrida); 10. quả nang mở bằng 4 van (Datura stramonium); 11-18. đài ở quả: 11. đài có răng dài (Lycianthes baviensis); 12. đài có răng ngắn (Lycianthes laevis); 13. đài gần như cụt (Tubocapsicum anomalum); 14. đài có thùy bao ở gốc quả (Solanum incanum); 15. đài bao gần kín quả (Solanum ferox); 16. đài bao kín quả (Physalis alkekengi); 17. đài nguyên, cong gập xuống góc (Lycopersicon esculentum); 18. đài chỉ còn lại gốc, cong gập xuống góc (Datura inoxia); 19, 20. phôi: 19. phôi cong (Datura metel); 20. phôi thẳng (Nicotiana tabacum)
Hạt thường nhiều, đôi khi ít, thường dẹt, có khi hình bầu dục hẹp (Cestrum), hình trứng hay gần hình cầu (Petunia). Phôi phần lớn cong, hơi cong hoặc thẳng.
Typus: Solanum L.
2. PHÂN BỐ VÀ SINH THÁI
Họ Cà có khoảng 96 chi với 2300 loài, phân bố ở khắp nơi trên thế giới; chủ yếu ở Nam Mỹ, Nam Phi, khu vực nhiệt đới châu Âu, châu Á. Việt Nam có 16 chi với 61 loài, 15 thứ phân bố rộng khắp trong cả nước. Chúng thường mọc ở ven rừng, trảng cỏ, ven sông suối,… ưa nơi sáng và lên tới độ cao 2500 m. Một số loài là cây trồng phổ biến trong vườn (khoảng 24 loài).
3. GIÁ TRỊ TÀI NGUYÊN
Nhiều loài trong họ Cà có giá trị sử dụng trong đời sống nhân dân (khoảng 14 chi với 41 loài). Đáng chú ý là các loài dùng làm thuốc (34 loài), trong đó một số loài chứa alcaloit (21 loài). Bên cạnh đó là những loài được dùng làm thực phẩm rau ăn (11 loài) và làm cảnh (13 loài).
4. HỆ THỐNG PHÂN LOẠI
Họ Cà (Solanaceae Juss.) nằm trong bộ Hoa mõm chó (Scrophulariales) thuộc lớp Mộc lan (Magnoliopsida) của ngành Mộc lan (Magnoliophyta). Từ giữa thế kỷ XVIII, C. Linnaeus (1753) đã biết dựa vào một số đặc điểm của thực vật (chủ yếu là số lượng nhị) để sắp xếp các chi và loài thực vật (trong đó có các loài sau này thuộc họ Cà) vào các nhóm khác nhau. Đây là kiểu phân chia tiến bộ nhất thời bấy giờ.
Năm 1789, A. Jussieu công bố tên gọi của họ Cà: Solaneae Juss. về sau được chỉnh lại cho đúng với tên gọi của luật danh pháp: Solanaceae Juss., chi chuẩn: Solanum L.
Sau công bố của A. Jussieu (1789), nhiều nhà nghiên cứu đã dựa vào các đặc điểm hình thái như: hoa, quả, hạt,… để mô tả họ và các taxon trong họ. Nhưng sự sắp xếp taxon còn có nhiều ý kiến khác nhau. R. Brown (1810) đã dựa vào hình thái của tràng, nhị, phôi để chia Solaneae ra thành hai Sectio. Kunth (1818) lại dựa vào hình thái của quả để chia Solaneae ra thành hai Sectio, đây vẫn là bước tiến rất quan trọng so với thời của C. Linnaeus (1753), bởi nó đã đưa được các taxon có quan hệ thân cận về gần với nhau hơn.
Về sau, nhiều tác giả khi nghiên cứu họ Solanaceae đã xây dựng được các hệ thống phân loại trên cơ sở các taxon xếp sau thường phải tiến hoá hơn các taxon xếp trước và dựa vào những đặc điểm điển hình nhất của cơ quan sinh sản. Có 2 quan điểm phân chia trong hệ thống họ Cà:
Quan điểm thứ nhất: họ Solanaceae được phân chia thành các tông. Tiêu biểu cho quan điểm này là: G. Bentham & J. D. Hooker (1864), H. Melchior (1964), V. H. Heywood (1993),...
Theo hệ thống phân loại của G. Bentham & J. D. Hooker (1864), họ Solanaceae được phân chia thành 5 tông, với 66 chi.
Các tác giả đã dựa vào sự khác biệt chủ yếu của các đặc điểm hình thái như: tràng, quả,... để phân chia họ Solanaceae ra thành 5 tông khác nhau, nhiều tác giả trên thế giới đã từng lựa chọn hệ thống này để nghiên cứu thực vật ở mỗi quốc gia hay vùng lãnh thổ. (bảng 1).
H. Melchior (1964) dựa chủ yếu vào sự khác nhau của phôi, coi cấu tạo phôi này là đặc điểm quan trọng nhất để phân chia họ Solanaceae ra thành 2 nhóm, đồng thời dựa vào các đặc điểm cấu tạo của bầu và số lượng nhị để phân chia họ Solanaceae ra thành 5 tông. Ngoài ra, tác giả còn tiếp tục phân chia tông Solaneae ra thành 5 phân tông và tông Cestreae ra thành 3 phân tông, với 85 chi trong họ Solanaceae. (bảng 1).
Bảng 1 cho thấy, toàn bộ các tông trong các hệ thống của H. Melchior (1964) và V. H. Heywood (1993) đều có sự xáo trộn so với hệ thống của G. Bentham & J. D. Hooker (1864). Đó là chi Nicandra được nâng lên thành tông vì có Nicandreae bầu 3-5 ô, với vách ngăn không đều. Bãi bỏ tông Antropeae và Hyoscyameae, đồng thời chuyển các chi (Antropa, Lycium, Mandragora của tông Antropeae; Hyoscyamus của tông Hyoscyameae) có bầu 2 ô sang tông Solaneae và gộp các chi (Solandra của tông Antropeae; Datura của tông Hyoscyameae) có bầu 4 ô với vách ngăn đều thành tông Datureae. Ngoài ra, chi Petunia vì có 5 nhị nên đã được chuyển từ tông Salpiglossideae sang tông Cestreae. Như vậy, so với hệ thống G. Bentham & J. D. Hooker (1864) các hệ thống của H. Melchior (1964) và V. H. Heywood (1993) đã có sự thay đổi rõ rệt. Toàn bộ các tông do G. Bentham & J. D. Hooker (1864) công bố đều bị các hệ thống H. Melchior (1964) và V. H. Heywood (1993) sắp xếp lại. Còn giữa hệ thống H. Melchior (1964) và hệ thống V. H. Heywood (1993) thì chỉ là sự khác nhau trong việc phân chia taxon ở bậc thấp hơn: 2 trong số 5 tông ở hệ thống của H. Melchior (1964) còn có sự phân chia thành các phân tông rồi mới đến chi, trong khi hệ thống của V. H. Heywood (1993) lại phân chia trực tiếp thành các chi.
Bảng 1. TÓM TẮT CÁC HỆ THỐNG PHÂN LOẠI HỌ SOLANACEAE CỦA G. BENTHAM & J. D. HOOKER (1864), H. MELCHIOR (1964) VÀ V. H. HEYWOOD (1993)

Qua sự phân tích 3 hệ thống tiêu biểu trên cho thấy: hệ thống G. Bentham & J. D. Hooker (1864) là hệ thống đã quá lạc hậu và có nhiều sự bất hợp lý; hệ thống của V. H. Heywood (1993) khắc phục được những nhược điểm của hệ thống G. Bentham & J. D. Hooker (1864) nhưng quá ngắn gọn, nên sẽ gặp khó khăn cho việc sắp xếp các taxon thuộc 2 tông: Solaneae và Cestreae; hệ thống H. Melchior (1964) vừa khắc phục được những nhược điểm của hệ thống G. Bentham & J. D. Hooker (1864) lại vừa giải quyết được việc sắp xếp các taxon trong 2 tông: Solaneae và Cestreae. Vì 2 tông này còn có sự phân chia nhỏ thành các phân tông. Do vậy, trong 3 hệ thống trên, hệ thống H. Melchior (1964) là hợp lý hơn cả cho việc sắp xếp các taxon thuộc họ Solanaceae.
Quan điểm thứ hai: họ Solanaceae được phân chia thành các phân họ (Subfam.), chủ yếu gặp ở các hệ thống của A. L. Takhtajan (1981, 1987 & 1996).
A. L. Takhtajan (1981) đã chia họ Solanaceae thành 2 phân họ. Đến hệ thống A. L. Takhtajan (1987), nâng phân họ Nolanoideae thành họ Nolanaceae và tách Solanoideae thành 2 phân họ: Solanoideae và Cestroideae. Đồng thời, chia nhỏ hầu hết các tông trong hệ thống A. L. Takhtajan (1981) và nâng số tông ở hệ thống A. L. Takhtajan (1987) lên tới 12, với 90 chi. Nhưng đến hệ thống A. L. Takhtajan (1996), tác giả lại đưa họ Nolanaceae trở thành phân họ Nolanoideae của họ Solanaceae, đồng thời tiếp tục chia nhỏ và nâng số tông lên 14. Do vậy họ Solanaceae trong hệ thống này gồm 3 phân họ (Subfam.), 14 tông (Trib.), với 96 chi (Genus).
Từ các hệ thống của A. L. Takhtajan (1981, 1987 & 1996) ta có thể lập bảng so sánh như sau (bảng 2):
Như vậy, hệ thống H. Melchior (1964) và hệ thống A. L. Takhtajan (1987) là hai hệ thống tiêu biểu nhất cho hai quan điểm nêu trên. So sánh 2 hệ thống này với nhau cho thấy, hệ thống A. L. Takhtajan (1987) có ưu điểm là phân chia thành 2 phân họ rõ ràng, còn hệ thống H. Melchior (1964) chỉ phân chia thành 2 nhóm tông. Tuy nhiên, đặc điểm duy nhất để hệ thống A. L. Takhtajan (1987) phân chia họ Cà thành 2 phân họ là đặc điểm của phôi, đây là đặc điểm không dễ dàng nhận biết được bằng mắt thường, lại không dễ thấy ở các tiêu bản, nên rất khó cho việc nghiên cứu bằng phương pháp hình thái so sánh. Ngoài ra, ở hệ thống A. L. Takhtajan (1987) họ Cà được phân chia thành tới 12 tông, trong đó có một nửa số tông không thấy có đại diện ở Việt Nam. Nên lựa chọn hệ thống A. L. Takhtajan (1987) cho việc phân loại họ Cà ở Việt Nam là không thoả đáng. Còn hệ thống H. Melchior (1964) có số lượng tông vừa phải, đa số các tông đều có đại diện ở Việt Nam, đồng thời cách phân chia của hệ thống này khá dễ dàng cho việc sắp xếp các taxon trong họ. Do vậy, việc lựa chọn hệ thống thống H. Melchior (1964) để sắp xếp các taxon trong họ Cà ở Việt Nam là hợp lý hơn cả.
Ở các nước trong cùng khu vực với Việt Nam cũng có một số công trình nghiên cứu họ Solanaceae như S. Kurz (1877) dựa vào đặc điểm quả để phân chia họ Solanaceae thành các nhóm nhỏ dần theo kiểu khoá lưỡng phân. Trong công trình này, chi Gardneria (nay thuộc họ Loganiaceae) vẫn được tác giả xếp trong họ Solanaceae.
C. A. Backer & R. C. Bakhuizen van den Brink Jr. (1965) công bố 18 chi, với 65 loài ở Inđônêxia. K. Z. Kuang & A. M. Lu (1978) trên cơ sở hệ thống H. Melchior (1964) đã sắp xếp các taxon của họ Solanaceae ở Trung Quốc trong 4 tông, 5 phân tông, 24 chi, với 105 loài có kèm theo hình vẽ của một hay nhiều bộ phận. Z. Y. Zhang,
A. M. Lu & W. G. D’Arcy (1994) đã mô tả 20 chi với 101 loài thuộc họ Solanaceae ở Trung Quốc.
Ở Việt Nam, J. Loureiro (1790) ed. 2 by C. L. Willdenow (1793) đã mô tả 6 chi, với 23 loài về sau này thuộc họ Solanaceae. Công trình của J. Loureiro chỉ là những nghiên cứu sơ khai và còn nhiều nhược điểm.
Bảng 2. TÓM TẮT CÁC HỆ THỐNG PHÂN LOẠI HỌ SOLANCEAE CỦA A. L. TAKHTAJAN (1981, 1987 & 1996)

Đáng chú ý là công trình của G. Bonati (1915-1927) về họ Solanaceae dưới dạng một taxon riêng biệt đầu tiên ở Việt Nam. Tác giả đã mô tả 8 chi, với 31 loài có ở Đông Dương; trong đó ở Việt Nam có 7 chi, với 27 loài. Tác giả đã không phân chia các taxon theo bậc tông như hệ thống của G. Bentham & J. D. Hooker (1864) trực tiếp mà chỉ từ họ đến chi. Đây là công trình tương đối đầy đủ về họ Solanaceae ở Đông Dương, và đến nay vẫn được coi là tài liệu tham khảo có giá trị. Mặc dù về mặt danh pháp đây là công trình còn khá nhiều sai sót và thiếu tư liệu, đặc biệt số lượng loài còn quá ít so với số lượng loài đang có tại Việt Nam.
Phạm Hoàng Hộ (1972) đã mô tả ngắn gọn với hình vẽ đơn giản của 8 chi, 31 loài thuộc họ Solanaceae gặp ở miền Nam Việt Nam. Đến 1993, Phạm Hoàng Hộ lại mô tả 51 loài thuộc 16 chi của họ Solanaceae trên lãnh thổ Việt Nam. Trong lần tái bản năm 1999, tác giả này đã bổ sung thêm 12 loài, đưa tổng số loài thuộc họ Solanaceae ở Việt Nam từ 51 lên 63. Đây là công trình đang được nhiều người sử dụng, mặc dù vẫn còn có những thiếu sót nhất định.
Lê Khả Kế và cộng sự (1974) đã mô tả, nêu đặc điểm sinh học, sinh thái, giá trị sử dụng kèm theo hình vẽ của 24 loài thường thấy thuộc 8 chi của họ Solanaceae ở Việt Nam. Nguyễn Văn Phú (1984) ghi nhận họ Solanaceae ở Tây Nguyên có 7 chi, với 16 loài. Nguyễn Thị Nhan (1996) ghi nhận họ Solanaceae ở Việt Nam có 13 chi, với 53 loài. Nguyễn Tiến Bân (1997) đã ghi nhận họ Solanaceae ở Việt Nam có 16 chi, gần 50 loài. Vũ Văn Hợp & Nguyễn Thị Nhan (2005) ghi nhận họ Solanaceae ở Việt Nam có 16 chi, với 58 loài.
Có thể so sánh một số công trình nghiên cứu trong bảng 3:
Bảng 3. SO SÁNH CÁC CHI VÀ LOÀI THUỘC HỌ CÀ (SOLANACEAE) Ở VIỆT NAM QUA MỘT SỐ CÔNG TRÌNH

Bảng 3 cho thấy: so với trước kia thì giờ đây không chỉ có số chi và loài tăng lên, mà còn có sự sắp xếp lại các taxon.
Qua phân tích một số hệ thống trên thế giới về họ Solanaceae chúng tôi đã chọn hệ thống phân loại của H. Melchior (1964) để nghiên cứu phân loại họ Solanaceae ở Việt Nam. Đây cũng là hệ thống đã được nhiều tác giả sử dụng để nghiên cứu họ Solanaceae ở mỗi quốc gia hay vùng lãnh thổ.
Bảng 4. HỆ THỐNG PHÂN LOẠI HỌ SOLANACEAE Ở VIỆT NAM (THEO H. MELCHIOR, 1964)
(4 tông, 5 phân tông, 16 chi, 64 loài và 15 thứ; trong đó 1 chi, 1 loài chưa đủ thông tin)

Theo hệ thống phân loại của H. Melchior (1964), họ Solanaceae ở Việt Nam có 4 tông: Solaneae, Datureae, Cestreae và Salpiglossideae; tông Solaneae gồm 3 phân tông: Lyciinae, Solaninae, Mandragorinae; tông Cestreae gồm 2 phân tông: Cestrinae và Nicotianinae; tông Datureae và Salpiglossideae không có phân tông với 15 chi là: Lycium, Physalis, Capsicum, Tubocapsicum, Solanum, Lycianthes, Lycopersicon, Cyphomandra, Datura, Brugmansia, Cestrum, Nicotiana, Petunia, Brunfelsia và Browallia. Ngoài ra, còn có một chi được biết không chắc chắn, là chi Atrichodendron.
Có thể lập bảng hệ thống phân loại họ Cà (Solanaceae) ở Việt Nam theo hệ thống Melchior (1964) như trên. (bảng 4).
KHOÁ ĐỊNH LOẠI CÁC CHI THUỘC HỌ SOLANACEAE Ở VIỆT NAM
| 1A. | Tràng hình chuông, hình bánh xe hoặc hình phễu ngắn (có chiều dài ngắn hơn 1,3 cm). | (Trib.1. Solaneae). |
| 2A. | Tràng hình phễu ngắn; thùy tràng xếp lợp. |
(Subtrib.1. Lyciinae) 1. LYCIUM |
| 2B. | Tràng hình chuông hoặc hình bánh xe; thùy tràng xếp van. | |
| 3A. | Bao phấn đính gốc. | (Subtrib.2. Solaninae) |
| 4A. | Đài ở quả phình to bao bọc kín quả. | 2. PHYSALIS |
| 4B. | Đài ở quả không bao bọc kín quả. | |
| 5A. | Bộ nhị gồm các bao phấn đứng rời nhau. | |
| 6A. | Tràng màu trắng, hiếm khi lam hoặc tím. Quả không mọng nước, có hình thái thay đổi. Bao phấn màu tía nhạt. | 3. CAPSICUM |
| 6B. | Tràng màu vàng sáng. Quả mọng nước, hình cầu. Bao phấn màu vàng nhạt. | 4. TUBOCAPSICUM |
| 5B. | Bộ nhị gồm các bao phấn đứng sát nhau hoặc dính với nhau tạo thành ống xung quanh vòi nhụy. | |
| 7A. | Bao phấn mở lỗ ở đỉnh. Tràng màu trắng, tím hay lam. | |
| 8A. | Đài xẻ 5 thùy, hiếm khi 4. | 5. SOLANUM |
| 8B. | Đài cụt hay có 1-10 răng. | 6. LYCIANTHES |
| 7B. | Bao phấn mở dọc. Tràng màu vàng. | 7. LYCOPERSICON |
| 3B. | Bao phấn đính lưng. |
(Subtrib.3. Mandragorinae). 8. CYPHOMANDRA |
| 1B. | Tràng hình ống hoặc hình phễu dài (có chiều dài trên 1,3 cm). | |
| 9A. | Tràng dài hơn 5 cm. | (Trib.2. Datureae). |
| 10A. | Hoa luôn ngắn hơn 20 cm. Quả nang có gai hoặc có mấu nhỏ. | 9. DATURA |
| 10B. | Hoa luôn dài hơn 20 cm. Quả nang nhẵn. | 10. BRUGMANSIA |
| 9B. | Tràng ngắn hơn 5 cm, đôi khi hơn. | |
| 11A. | Hoa có 5 nhị. | (Trib.3. Cestreae) |
| 12A. | Cây bụi. Thùy tràng xếp van. Quả mọng |
(Subtrib.4. Cestrinae) 11. CESTRUM |
| 12B. | Cỏ hằng năm. Thùy tràng xếp lợp. Quả nang | (Subtrib.5. Nicotianinae). |
| 13A. | Cụm hoa hình chùy mọc ở đỉnh cành; có lá bắc. | 12. NICOTIANA |
| 13B. | Hoa (mọc) đơn độc ở nách lá; không có lá bắc. | 13. PETUNIA |
| 11B. | Hoa có 4 nhị | (Trib.4. Salpiglossideae) |
| 14A. | Cây bụi, không có lông tuyến. Hoa (mọc) đơn độc, đôi khi 2-3, chỉ mọc ở đỉnh cành. | 14. BRUNFELSIA |
| 14B. | Cỏ, có lông tuyến. Hoa (mọc) đơn độc ở phía dưới, cụm hoa hình xim bọ cạp mọc ở phía trên của cùng một cành. | 15. BROWALLIA |
| Chi chưa đủ thông tin | 16. ATRICHODENDRON |