TẬP 15 - THỰC VẬT CHÍ VIỆT NAM - FLORA OF VIETNAM: HỌ THIÊN LÝ – ASCLEPIADACEAE R. Br.
ASCLEPIADACEAE R. Br. 1810 – Họ THIÊN LÝ
(3 phân họ, 6 tông, 49 chi, 143 loài; trong đó 1 chi và 13 loài chưa đủ thông tin)
MỞ ĐẦU
Họ Thiên lý (Asclepiadaceae R. Br.) có khoảng 250 chi với hơn 2000 loài, phân bố chủ yếu ở vùng nhiệt đới và cận nhiệt đới. Việt Nam có 49 chi với 143 loài, phân bố trong cả nước. Giá trị tài nguyên có khoảng 60 loài (35 chi), quan trọng nhất là làm thuốc, ngoài ra làm cảnh, rau ăn,...
Họ Thiên lý hình thành năm 1810 do R. Brown tách ra từ họ Trúc đào (Apocynaceae Juss. 1789) và chia thành 3 tông với 37 chi. Nhiều tác giả đồng tình và hoàn thiện thêm như C. L. Blume (1826), J. Lindley (1836), H. G. Reichenbach (1837), G. Bentham & J. D. Hooker (1876),… và chia thành 2 phân họ, 7 tông, 146 chi. Đáng chú ý là hệ thống K. Schumann (1895) chia 2 phân họ, 4 tông, 10 phân tông vì đã đề cập đến quan hệ chủng loại. Các tác giả F. R. R. Schulter (1905), A. A. Bullock (1956), J. Hutchinson (1973),... tách 3 phân họ. S. Liede & F. Albers (1994) đã có được một hệ thống hoàn chỉnh nhất với 3 phân họ và 7 tông và được ứng dụng cho hệ thống phân loại họ Thiên lý ở Việt Nam.
Ở Việt Nam, người đầu tiên nghiên cứu các taxon họ Thiên lý là J. Loureiro (1790) với 17 chi, 26 loài; J. Costantin (1912) có công trình tương đối hoàn chỉnh ở Việt Nam với 38 chi, 104 loài. Từ đó đến nay nhiều công trình phân loại về họ Thiên lý được công bố như Lê Khả Kế (1969), Phạm Hoàng Hộ (1972, 1993, 2000), Trần Thế Bách (2001, 2002, 2003, 2004, 2005,...),... và các công trình giá trị sử dụng làm thuốc như A. Petelot (1953), Đỗ Tất Lợi (1995), Võ Văn Chi (1997, 2012),… Tuy nhiên đó là những công trình chưa có được sự cập nhật đầy đủ tài liệu hiện đại.
Thực vật chí Việt Nam, tập 15 – họ Thiên lý (Asclepiadaceae R. Br.) là công trình phân loại đầy đủ và có hệ thống, được biên soạn trên cơ sở nhiều năm nghiên cứu, điều tra thu thập mẫu vật và tư liệu tại nhiều vùng ở Việt Nam, trong các điều kiện sinh thái phù hợp với sự phân bố các loài họ Thiên lý. Đồng thời dựa trên mẫu vật và tư liệu ở các phòng tiêu bản trong nước như Viện Sinh thái và Tài nguyên sinh vật (HN), Trường Đại học Khoa học Tự nhiên (Đại học Quốc gia Hà Nội) (HNU), Viện Dược liệu Hà Nội (HNPM), Trường Đại học Dược Hà Nội (HNPI), Viện Sinh học nhiệt đới Tp. Hồ Chí Minh (VNM),... đồng thời tham khảo ở các phòng tiêu bản nước ngoài như Viện Thực vật Kunming (Trung Quốc) (KUN), Viện Thực vật Quảng Tây (Trung Quốc) (IBK), Đại học Daejeon (Hàn Quốc), Đại học Kyoto (Nhật Bản) (KYO), Bảo tàng lịch sử tự nhiên Paris (Pháp) (P), Trường Đại học Khoa học tự nhiên Tokyo (Nhật Bản) (TI),...
Công trình gồm 484 trang, trình bày những nội dung về đặc điểm hình thái, kiểm kê các hệ thống phân loại và chọn hệ thống phân loại cho họ Thiên lý ở Việt Nam. Phần chủ yếu gồm các khoá định loại taxon; mỗi taxon trình bày danh pháp, synonym, đặc điểm hình thái, mẫu chuẩn, sinh học, sinh thái, phân bố trong nước và thế giới, mẫu nghiên cứu, giá trị sử dụng, các nhận xét (nếu có). Kèm theo là 125 hình vẽ, 120 trang ảnh màu (với rất nhiều kiểu ảnh mỗi loài), các bảng tra cứu tên khoa học và tên Việt Nam, tài liệu tham khảo.
Công trình còn tham khảo và trích dẫn tư liệu, hình vẽ và ảnh màu cả các tác giả khác.
1. ĐẶC ĐIỂM HÌNH THÁI
1.1. HÌNH THÁI THÂN (hình 1, ảnh 1)
Trong họ Thiên lý (Asclepiadaceae) hầu như gặp đủ các hình thái thân chủ yếu, trừ cây gỗ to. Cây thường leo hay trườn, đôi khi đứng (Telectadium, Cynanchum, Asclepias, Gomphocarpus, Calotropis, Vincetoxicopsis, Tavaresia, Huernia, Stapelia, Pentasacme). Đại đa số thân tròn, ít khi có cạnh trông giống như Xương rồng (Tavaresia, Huernia, Stapelia, Echidnopsis). Đôi khi cây phụ sinh hay bám trên đá, trên thân có rễ phụ (Hoya, Dischidia). Cây có nhựa mủ màu trắng như sữa hay đôi khi không màu (Tavaresia, Huernia, Stapelia, Echidnopsis).

Hình 1. Một số hình thái thân của họ Thiên lý
1. thân đứng (Cynanchum stauntonii (Decne.) Hand.-Mazz.); 2. thân leo (Dischidia bengalensis Colebr.); 3. thân hình như Xương rồng (Tavaresia barklyi N. E. Br.)
1.2. LÁ (hình 2, ảnh 2)
Phần lớn cây có lá phát triển, ít khi lá tiêu giảm (Sarcostemma, Tavaresia, Huernia, Stapelia, Echidnopsis). Lá đơn, mọc đối, đôi khi đối chéo chữ thập (một số loài ở các chi Asclepias, Calotropis), hay hiếm khi mọc vòng (một số loài ở Telectadium), mép lá nguyên, không có lá kèm. Lá thường không nạc, chỉ ở một số ít chi có lá nạc (Hoya, Dischidia). Ở các lá già của loài Dischidia major (Vahl) Merr., rễ thường phát triển bên trong các hốc của các lá hình như cái bình nước tạo thành nơi sống của kiến.

Hình 2. Một số hình thái lá của họ Thiên lý
1-3. lá nạc [1: Dischidia major (Vahl) Merr.; 2. rễ phát triển bên trong các hốc của các lá dạng cái bình nước của loài Dischidia major (Vahl) Merr. tạo thành nơi sống của kiến; 3. Hoya obovata Decne.]; 4. lá không nạc (Pentasacme caudatum Wall. ex Wight); 5, 6. lá tiêu giảm [5. Sarcostemma acidum (Roxb.) Voigt; 6. Tavaresia barklyi N. E. Br.]
1.3. HOA VÀ CỤM HOA (hình 3-5, ảnh 3-6)
Hoa ở họ Thiên lý lưỡng tính, đều, mẫu 5. Hoa họp thành cụm hoa xim hình tán, chùm hay bông ít khi là 1 hoa (Tavaresia, Huernia, Stapelia, Echidnopsis), mọc ở tận cùng, ở nách lá, ít khi ở ngoài nách lá (Hoya).
Tiền khai hoa thường là vặn, đôi khi van (Hemidesmus).
Đài hợp, gồm 5 thuỳ, gốc đài thường có 5-nhiều tuyến, ít khi không có tuyến (Atherolepis, Atherandra). Tràng hợp, gồm 5 thuỳ, hình bánh xe, đôi khi hình cái hũ (Dischidia) hay hình cái kèn trumpet (Telosma). Mặt trong của tràng có lông hay nhẵn (Echidnopsis,...), đôi khi có lông cứng (Tavaresia, Huernia).

Hình 3. Một số hình thái đài họ Thiên lý (đài với các tuyến ở gốc)
1. Periploca calophylla (Wight & Arn.) Falc.; 2. Dischidanthus urceolatus (Decne.) Tsiang; 3. Heterostemma grandiflorum Cost.; 4. Merrillanthus hainanensis Chun & Tsiang; 5. Oxystelma esculentum (L. f) R. Br. ex Schult.
Một cấu trúc đặc biệt trong hoa ở họ Thiên lý là có tràng phụ. Tràng phụ có mặt ở hầu hết các chi trong họ trừ một số ít chi như Sarcolobus, Pseudosarcolobus, Spirella. Tràng phụ đơn (1 vòng tràng phụ) hay kép (có 2 vòng tràng phụ như Oxystelma, Campestigma, Tavaresia, Huernia, Stapelia, Echidnopsis). Tràng phụ không nạc hay nạc (Hoya, Dregea), gồm 5 vảy; vảy tràng phụ ở đáy thường không có cựa hay có cựa (Calotropis), không có phần phụ dạng sừng hay đôi khi có phần phụ dạng sừng (Asclepias); vảy tràng phụ nguyên hay xẻ sâu, có nhiều hình dạng khác nhau như hình trứng (Gymnanthera), hình tam giác (Atherolepis, Genianthus) hay hình sợi (Finlaysonia, Atherandra), hình lưỡi liềm (Secamone) hay có thể chia thành các phần có hình thái khác nhau (Periploca); Tràng phụ dính với nhị, với cột nhị nhụy hay dính với tràng (Hemidesmus, Cryptolepis, Zygostelma, Gymnemopsis, Harmandiella, Gymnema).

Hình 4. Một số hình thái tràng họ Thiên lý
1-3. tràng hình bánh xe [1. Calotropis gigantea (L.) Dryand. ex Ait. f.; 2. Hoya carnosa (L.) R. Br.; 3. Pentasacme caudatum Wall. ex Wight]; 4, 5. tràng hình cái kèn trumpet [4. Gymnanthera oblonga (Burm. f.) P. S. Green; 5. Telosma cordata (Burm. f.) Merr.]; 6-8. tràng hình cái hũ [6. Dischidia bengalensis Colebr.; 7. Dischidia hirsuta (Blume) Decne.; 8. Dischidia acuminata Cost.]

Hình 5. Một số hình thái tràng phụ họ Thiên lý
1. vảy tràng phụ hình sợi [Myriopteron extensum (Wight & Arn.) K. Schum.]; 2. tràng phụ nạc (Hoya obovata Decne.); 3. vảy tràng phụ hình mỏ neo (Dischidia nummularia R. Br.); 4. tràng phụ kép (Huernia transvaalensis Stent); 5. tràng phụ hình chén (Cynanchum corymbosum Wight); 6. tràng phụ có phần phụ hình sừng (Asclepias curassavica L.); 7. tràng phụ có cựa tại gốc [Calotropis gigantea (L.) Dryand. ex Ait. f.]
1.4. BỘ NHỊ (hình 6, 7; ảnh 7-22)
Chỉ nhị rời (Periplocoideae) hay dính nhau (Asclepiadoideae, Secamonoideae). Khi chỉ nhị rời, giữa các chỉ nhị có tuyến hay đôi khi không có tuyến (Gymnanthera, Finlaysonia). Bao phấn 4 ô (Periplocoideae, Secamonoideae) hay 2 ô (Asclepiadoideae). Đỉnh bao phấn thường có phần phụ chất màng mỏng hay không có phần phụ (Toxocarpus, Ceropegia, Echidnopsis, Huernia, Stapelia, Tavaresia). Đặc điểm nổi bật ở họ này là hạt phấn họp thành nhóm 4 – tứ tử (các hạt phấn tập hợp thành các nhóm có 4 hạt phấn) (có ở hầu hết các chi của phân họ Periplocoideae) hay dính thành khối phấn (Secamonoideae, Asclepiadoideae). Khối phấn có nhiều hình thái khác nhau: hình mác ngược, hình bầu dục (Huernia, Echidnopsis) hay hình chữ D (Tavaresia, Stapelia). Khối phấn không có mỏm ở đỉnh hay có mỏm ở đỉnh (Ceropegieae).

Hình 6. Một số hình thái cơ quan truyền phấn của họ Thiên lý
1-3. cơ quan truyền phấn hình thìa, đáy (gốc) có đĩa dính [1. Cryptolepis sinensis (Lour.) Merr.; 2. Finlaysonia obovata Wall.; 3. Periploca calophylla (Wight & Arn.) Falc.]; 4, 5. cơ quan truyền phấn dạng cái kẹp, có gót đính [4. Toxocarpus villosus (Blume) Decne.; 5. Secamone elliptica R. Br.]; 6-8. cơ quan truyền phấn có gót đính và 2 chuôi, khối phấn hướng lên [6. Hoya parasitica (Roxb.) Wall. ex Wight; 7. Dregea volubilis (L. f.) Benth. & Hook.; 8. Pentasacme caudatum Wall. ex Wight]; 9-11. cơ quan truyền phấn có gót đính và 2 chuôi, khối phấn treo [9. Sarcostemma acidum (Roxb.) Voigt; 10. Oxystelma esculentum (L. f) R. Br. ex Schult.; 11. Calotropis gigantea (L.) Dryand. ex Ait. f.]
Một cấu trúc đặc trưng của họ Thiên lý là cơ quan truyền phấn. Cơ quan truyền phấn hình thìa có đáy mở rộng thành dạng đĩa dính mềm (Periplocoideae) hay cơ quan truyền phấn dạng cái kẹp cứng và không có sáp bao ngoài vách khối phấn (Secamonoideae) hay cơ quan truyền phấn có 1 gót đính và 2 chuôi, mỗi chuôi mang một khối phấn có sáp bao ngoài vách khối phấn (có ở hầu hết ở các chi của phân họ Asclepiadoideae). Sự kết hợp giữa cơ quan truyền phấn (translator) và tập hợp hạt phấn (nhóm 4 hoặc khối phấn) tạo thành cấu trúc Pollinarium (khối phấn có đế). Khối phấn treo (thường nằm phía dưới gót đính) (Asclepiadeae) hay khối phấn hướng lên (thường nằm phía trên gót đính) (Marsdenieae) hoặc nằm ngang.

Hình 7. Tập hợp hạt phấn họ Thiên lý
1-4. tứ tử (nhóm gồm 4 hạt phấn) [1, 2. Myriopteron extensum (Wight & Arn.) K. Schum.; 3. Telectadium linearicarpum Pierre ex Cost.; 4. Gymnanthera oblonga (Burm. f.) P. S. Green]; 5-7. một phần khối phấn (nhóm gồm nhiều hạt phấn dính chặt với nhau) [5. Calotropis gigantea (L.) Dryand. ex Ait. f.; 6. Hoya multiflora Blume; 7. Asclepias curassavica L.]
1.5. BỘ NHỤY, CỘT NHỊ-NHỤY (hình 8, ảnh 23)
Bầu thượng (bầu trên), gồm 2 lá noãn gần rời, dính nhau ở đầu nhụy. Đỉnh bầu thót lại thành hình vòi nhụy (Asclepiadeae) hay đính trực tiếp trên bầu (đỉnh bầu không thót lại thành hình vòi nhụy) (Marsdenieae). Vòi nhụy thường tiêu giảm. Đầu nhụy phẳng, lõm hay phồng lên (Gymnema).
Đầu nhụy gắn với nhị tạo thành một cấu trúc đặc biệt là cột nhị-nhụy (gynostegium). Cột nhị nhụy không có cuống (Pseudosarcolobus, Spirella) hay có cuống ngắn (Sarcolobus).

Hình 8. Một số dạng bầu của họ Thiên lý
1, 2. bầu không thót lại (1. Hoya bonii Cost.; 2. Hoya griffithii Hook. f.); 3, 4. bầu thót lại [3. Oxystelma esculentum (L. f) R. Br. ex Schult.; 4. Calotropis gigantea (L.) Dryand. ex Ait. f.]
Quả của họ Thiên lý là kiểu quả đại, thường gồm 2 đại, đôi khi 1 đại tiêu giảm. Quả không có cánh; nhưng ở một số loài, vỏ quả ngoài tạo thành gờ như cánh (Myriopteron, Oxystelma). Vỏ quả dày (Merrillanthus) hay mỏng (Tylophora). Quả chứa nhiều hạt, mỗi hạt có 1 chùm lông (mào lông) màu trắng ở đỉnh.
1.6. QUẢ, HẠT (hình 9, 10; ảnh 24)

Hình 9. Một số dạng quả họ Thiên lý
1, 2. quả gồm 2 đại [1. Cryptolepis buchananii Roem. & Schult.; 2. Gymnema sylvestre (Retz.) R. Br. ex Schult.]; 3-5. quả gồm 1 đại [3. Myriopteron extensum (Wight & Arn.) K. Schum.; 4. Calotropis gigantea (L.) Dryand. ex Ait. f.; 5. Gymnema latifolium Wall. ex Wight]

Hình 10. Một số hạt họ Thiên lý
1-5. hạt có mào lông ở đỉnh [1. Cryptolepis buchananii Roem. & Schult.; 2. Cryptolepis sinensis (Lour.) Merr.; 3. Hoya villosa Cost.; 4. Pentasacme caudatum Wall. ex Wight; 5. Asclepias curassavica L.]
Typus: Asclepias L.
2. PHÂN BỐ VÀ SINH THÁI
Họ Thiên lý có khoảng 250 chi với hơn 2000 loài, phân bố chủ yếu ở vùng nhiệt đới và cận nhiệt đới. Ở Việt Nam có 49 chi với 143 loài.
3. GIÁ TRỊ TÀI NGUYÊN
Dựa trên các tài liệu về công dụng của thực vật, đã thống kê được 60 loài thuộc 32 chi có giá trị sử dụng của họ Thiên lý. Trong đó, có 49 loài làm thuốc, 8 loài làm cảnh, 5 loài làm rau ăn, 1 loài cho sợi, 1 loài làm thuốc nhuộm, 1 loài lấy củ ăn, 1 loài làm gia vị. Như vậy giá trị lớn nhất của họ Thiên lý là làm thuốc, sau đó là đến làm cảnh, làm rau ăn. Chi Hoya – Hoa sao có số lượng loài lớn nhất về giá trị sử dụng (8 loài), tiếp đến là chi Tylophora – Đầu đài (6 loài), ít hơn là các chi Cynanchum – Sát khuyển và chi Dischidia – Tai chuột có 3 loài; các chi có 2 loài được sử dụng như Cryptolepis – Ẩn lân, Toxocarpus – Tiễn quả, Gymnema – Loã ti, Marsdenia – Hàm liên, Telosma – Thiên lý, Stapelia – Sao tím, Raphistemma – Trâm hùng, Calotropis – Bồng bồng. Các chi khác có 1 loài được sử dụng là Telectadium – Vệ tuyền, Hemidesmus – Bán tràng, Periploca – Chu đằng, Streptocaulon – Hà thủ ô nam, Myriopteron – Bạch căn giả, Secamone – Rọ, Fockea – Phốc kê, Sarcolobus – Dây cám, Dischidanthus – Song sang, Dregea – Bù ốc, Pentasacme – Ngũ giác, Heterostemma – Dị hùng, Tavaresia – Sên, Huernia – Đồng tử, Echidnopsis – Bò cạp, Sarcostemma – Tiết căn, Oxystelma – Cù mai, Pentatropis – Ngũ hướng, Asclepias – Bông tai, Gomphocarpus – Gai quả.
Trong công dụng làm thuốc, đáng chú ý là một số loài để chữa một số bệnh như ung thư (Cryptolepis buchananii Roem. & Schult. – Ẩn lân buchana; Dregea volubilis (L. f.) Benth. & Hook. – Bù ốc leo; Oxystelma esculentum (L. f) R. Br. ex Schult. – Cù mai ăn được), chữa tiểu đường (Gymnema sylvestre (Retz.) R. Br. ex Schult. – Loã ti rừng), bệnh về tim mạch (Asclepias curassavica L. – Bông tai).
Trong các loài làm cảnh, loài được trồng phổ biến là Hoya carnosa (L.) R. Br. – Cẩm cù, Hoa sao. Các loài của chi Hoya – Hoa sao có hoa đẹp, thường có mùi thơm, nên cũng có thể được trồng làm cảnh. Một số loài làm cảnh có hình thái giống như Xương rồng nhưng lại thuộc họ Thiên lý được bán nhiều ở các hàng cây cảnh như Tavaresia barklyi N. E. Br. __ Sên; Huernia transvaalensis Stent __ Đồng tử; Stapelia grandiflora Mass. __ Sao tím hoa to; Stapelia puchella Mass. __ Sao tím; Echidnopsis tessellata K. Schum. __ Bò cạp.
Một loài đáng chú ý khác là Telosma cordata (Burm. f.) Merr. – Thiên lý, có hoa và lá non nấu canh ăn ngon, là món ăn phổ biến của Việt Nam.
4. HỆ THỐNG PHÂN LOẠI
Trước khi họ Thiên lý (Asclepiadaceae R. Br.) được hình thành, C. Linnaeus (1753) đã mô tả 5 chi và 31 loài sau này được xếp vào họ Thiên lý. R. Brown (1810) là người đầu tiên tách một số lớn các chi ra khỏi họ Trúc đào (Apocynaceae) của A. Jussieu (1789) để thành lập họ Thiên lý (Asclepiadaceae). Lý do căn bản của sự thay đổi này là sự có mặt của một cơ quan đặc biệt gọi là cơ quan truyền phấn (translator). Tác giả này đã chia họ Thiên lý thành 3 tông với 37 chi. Nhiều tác giả bổ sung, hoàn thiện như: C. L. Blume (1826), J. Lindley (1836), H. G. Reichenbach (1837), S. L. Endlicher (1838), J. Decaisne (1844), F. A. Miquell (1856), G. Bentham & J. D. Hooker (1876), S. Kurz (1877), J. D. Hooker (1883). Căn cứ vào các đặc điểm như: số khối phấn trong mỗi ô phấn, vị trí khối phấn (treo, đứng hay nằm ngang), bao phấn có hay không có phần phụ ở đỉnh, G. Bentham & J. D. Hooker (1876) đã chia họ Asclepiadaceae thành 2 phân bộ-suborder (sau này được K. Schumann (1895) chuyển thành phân họ-subfamily) là: __ suborder 1: Periploceae (Periplocoideae) __ suborder 2: Eusclepiadeae (Asclepiadoideae) với 7 tông và 146 chi. Tuy nhiên sự phân biệt các bậc trong hệ thống phân loại chưa thật rõ ràng và thiếu hợp lý. Mặt khác một số đặc điểm lựa chọn để phân biệt một số chi không thể hiện được sự đối lập rõ ràng.
Công trình tương đối toàn diện và hệ thống về họ Thiên lý là của K. Schumann (1895), người đầu tiên nghiên cứu khá kỹ về các loạt đặc điểm từ hình thái ngoài của cơ quan dinh dưỡng đến giải phẫu, cấu tạo cụm hoa, hoa, cách thức truyền phấn và thụ phấn, quả, hạt, phân bố địa lý, dẫn liệu về cổ sinh, mối quan hệ thân cận giữa các taxon lớn trong họ Thiên lý. Tác giả cũng là người đầu tiên định hướng cho việc sử dụng tổng hợp các loạt đặc điểm trong phân loại họ Thiên lý. Điểm nổi bật là, trong khi phân tích các đặc điểm, tác giả luôn tìm hiểu mối quan hệ nhân quả, mức độ tiến hoá của chúng và sắp xếp theo mức độ tiến hoá từ thấp lên cao. Hệ thống của K. Schumann (1895) về họ Thiên lý nói riêng và hệ thống Engler nói chung là theo quan điểm phát sinh chủng loại. Tác giả chia họ Thiên lý thành 2 phân họ, 5 tông với 218 chi và nêu tên gồm 2000 loài cùng một số đặc điểm chính để phân biệt chúng. (bảng 1).
Công trình của K. Schumann (1895) có nhiều thay đổi về vị trí phân loại cũng như khối lượng các taxon. Điều đáng chú ý ở đây là lần đầu tiên danh pháp các bậc trong họ Thiên lý được tác giả trình bày hợp với luật danh pháp hiện nay.
Đầu thế kỷ XX, F. R. R. Schlechter (1905) đã đề nghị tách phân họ Periplocoideae thành họ độc lập Periplocaceae Schlechter. Một số tác giả như A. A. Bullock (1956), J. Hutchinson (1973), H. K. Airy Shaw (1985) và H. Kunze (1990) ủng hộ. Phần lớn các nhà nghiên cứu khác đều không đồng tình với việc tách này. Theo chúng tôi việc coi Periplocaceae chỉ là một phân họ của Asclepiadaceae là hợp lý vì cả 3 phân họ Periplocoideae, Secamonoideae và Asclepiadoideae đều có đặc điểm cơ bản là cơ quan truyền phấn.
Cho đến những năm 80 của thế kỷ XX, hệ thống phân loại họ Thiên lý được nhiều nhà nghiên cứu áp dụng trong các công trình chuyên khảo các taxon riêng rẽ cũng như trong thực vật chí của các nước là hệ thống của G. Bentham & J. D. Hooker (1876) và hệ thống của K. Schumann (1895). (bảng 1).
Hai hệ thống này có nhiều chỗ trùng nhau, nhưng khác nhau ở chỗ:
_ Hệ thống của G. Bentham & J. D. Hooker (1876) không phân chia rõ ràng thành phân họ, chỉ chú ý từ bậc tông đến chi. Hệ thống của K. Schumann (1895) đã phân chia thành các bậc rõ ràng từ subfamily, tribus, subtribus, genus, species,... Tên gọi của các taxon cũng phù hợp với luật danh pháp quốc tế hiện nay.
_ Hệ thống của G. Bentham & J. D. Hooker (1876) tập trung chủ yếu vào việc tìm các dấu hiệu để phân biệt các taxon mà chưa chú ý đến bản chất các đặc điểm và mối quan hệ phát sinh chủng loại các bậc trong họ. Hệ thống của K. Schumann (1895) đã khắc phục được nhược điểm trên, tác giả rất chú ý đến mối quan hệ phát sinh chủng loại.
Qua so sánh 2 hệ thống cho thấy tính ưu việt hơn hẳn của hệ thống K. Schumann (1895). Mặc dù vậy, hệ thống của K. Schumann (1895) không tránh khỏi những thiếu sót như: việc gộp các chi của phân họ Secamonoideae đã được S. L. Endlicher (1838) thành lập vào với phân họ Asclepiadoideae là không hợp lý bởi hầu hết các nhà nghiên cứu hiện nay đều ủng hộ quan điểm của S. L. Endlicher (1838) coi Secamonoideae là 1 phân họ độc lập như các công trình của H. K. Airy Shaw (1966), Tsiang & Li (1977), E. Sundell (1980), P. V. Bruyns & P. I. Forster (1991), S. Liede (1993, 1994), S. Nilssons & al. (1993), Swarupanandan et al. (1996), A. Takhtajan (1997), M. E. Endress (2000). Việc coi Secamonoideae là một phân họ độc lập là hợp lý bởi nó phân biệt rất rõ với 2 phân họ Periplocoideae và Asclepiadoideae.
Lý do thứ hai, các loài của chi Tylophora trong hệ thống của K. Schumann (1895) nằm trong tông Tylophoreae thì ở trong hầu hết các hệ thống sau đó nằm trong tông Asclepiadeae như S. Liede & F. Albers (1994), Swarupanandan & al. (1996) và M. E. Endress (2000).

Trên nền tảng của 2 hệ thống phân loại trên, cùng với nhiều dẫn liệu thu thập được, một số tác giả đã bổ sung và điều chỉnh 2 hệ thống phân loại trên cho hợp lý hơn hoặc đề xuất hệ thống phân chia khác như V. H. Heywood (1993), S. Liede & F. Albers (1994), Swarupanandan & al. (1996), A. Takhtajan (1997).
Đáng chú ý là hệ thống của S. Liede & F. Albers (1994) vì đã khắc phục được những nhược điểm mà hệ thống K. Schumann (1895) và các công trình trước đó mắc phải, cập nhật thông tin về mặt danh pháp, sử dụng nhiều phương pháp hiện đại như sinh học phân tử, các chương trình máy tính để xây dựng sơ đồ mối quan hệ phát sinh chủng loại. Chính vì vậy hệ thống của S. Liede & F. Albers (1994) đã trở thành một hệ thống tương đối hoàn hảo (Bảng 1).
Trong hệ thống, 2 phân họ Periplocoideae và Secamonoideae phù hợp với hầu hết các hệ thống về họ Thiên lý. Trong phân họ Asclepiadoideae, S. Liede & F. Albers đã ủng hộ quan điểm thành lập tông Fockeae ở vị trí trung gian giữa 2 phân họ Secamonoideae và Asclepiadoideae của Kunze, Meve & Liede (1994).
Tiếp theo hệ thống của S. Liede & F. Albers (1994), hệ thống của Swarupanandan & al. (1996) đã tách phân họ Periplocoideae thành một họ độc lập.
Hệ thống của A. Takhtajan (1997) đã nhập họ Asclepiadaceae vào họ Apocynaceae, quan điểm trái với hệ thống của ông vào năm 1973. Trong công trình này tác giả cũng không chỉ ra được sự có mặt của cơ quan truyền phấn ở họ Apocynaceae, vì vậy việc nhập họ Asclepiadaceae vào họ Apocynaceae cũng chưa đủ sức thuyết phục.
Trong các công trình gần đây như P. V. Bruyns (2000) [38], M. E. Endress & P. V. Bruyns (2000) [47] có sử dụng đặc điểm khối phấn có mỏm ở đỉnh hoặc phía trong để mô tả cho tông Ceropegieae, vì vậy vị trí một số chi có sự thay đổi như Pentasacme, Heterostemma: trong hệ thống của G. Bentham & J. D. Hooker (1876) và K. Schumann (1895), hai chi này nằm trong tông Marsdenieae, còn trong công trình của P. V. Bruyns (2000) và M. E. Endress (2000) chúng nằm trong tông Ceropegieae. Một số chi trong tông Marsdenieae có đặc điểm khối phấn có mỏm như ở chi Hoya, Micholitzia nhưng khác ở chỗ chi Hoya có mỏm ở phía ngoài, chi Micholitzia có mỏm ở phía dưới, còn ở tông Ceropegieae có mỏm ở phía trên hoặc phía trong, một câu hỏi đặt ra là tại sao vị trí mỏm ở đỉnh và phía trong lại được chọn là vị trí quan trọng hơn đối với đặc điểm của tông Ceropegieae, hiện nay chưa có sự trả lời thuyết phục nào.
Trong vài thập kỷ gần đây, trên cơ sở áp dụng phương pháp nghiên cứu toán, tin học, xây dựng ma trận các đặc điểm và phân tích phân tử, người ta nhận thấy rằng giữa Asclepiadaceae và Apocynaceae có mối quan hệ chặt chẽ gần như liên tục trong quá trình tiến hoá mà không thể hiện tính ngắt quãng rõ rệt của các đặc điểm chủ yếu (đặc điểm phân biệt). Vì vậy một số tác giả đề nghị nhập 2 họ này trở lại thành một họ duy nhất là Apocynaceae Juss.. Các tác giả ủng hộ quan điểm này đang tiếp tục tìm kiếm bằng cứ chứng minh cho luận điểm của họ như F. M. Safwat (1962), W. D. Steven (1976), R. F. Thorne (1976), W. S. Judd & al. (1994), A. Takhtajan (1997), M. E. Endress & P. V. Bruyns (2000). Mặc dù đưa ra rất nhiều bằng chứng cho việc nhập Asclepiadaceae vào Apocynaceae nhưng các tác giả trên cũng chưa đưa ra được đặc điểm quan trọng cơ quan truyền phấn có mặt ở họ Apocynaceae, bởi đây chính là đặc điểm quyết định cho việc tách Asclepiadaceae ra khỏi Apocynaceae của R. Brown vào năm 1810. Một trong các phương pháp trợ giúp rất lớn cho các nhà thực vật có quan điểm nhập Asclepiadaceae vào Apocynaceae là phương pháp sử dụng các chương trình máy tính, tuy vậy, ngay cả việc sử dụng chúng cũng có nhiều chương trình, phương pháp và thậm chí dẫn đến kết quả khác nhau. Ví dụ sử dụng chương trình nào là tốt hơn: Hennig, Phylip hay PAUP,...; phương pháp nào là thích hợp: phương pháp khoảng cách hay phương pháp MP-Maximum Parsimony,... và dẫn đến kết quả đôi khi không giống nhau hoàn toàn. Chính vì vậy, quan điểm nhập Asclepiadaceae vào Apocynaceae chưa thuyết phục được hết các nhà phân loại học, do vậy nhiều công trình vẫn để Apocynaceae s. l. có nghĩa là quan điểm rộng coi Apocynaceae gồm cả Asclepiadaceae, còn Apocynaceae s. str. có nghĩa là theo quan điểm hẹp, coi Apocynaceae và Asclepiadaceae là 2 họ độc lập. Theo quan điểm của chúng tôi, việc nhập Asclepiadaceae vào Apocynaceae là chưa đủ sức thuyết phục. Để giải quyết sự khác biệt quan điểm trên, tháng 10/1999 và tháng 7/2005 đã tiến hành các cuộc hội nghị khoa học tại Mỹ và Áo về họ Apocynaceae và Asclepiadaceae, nhưng các nhà nghiên cứu vẫn chưa đi đến sự nhất trí chung. Vì vậy trong công trình nghiên cứu của mình, chúng tôi vẫn theo quan điểm truyền thống, coi Asclepiadaceae là họ độc lập.
Qua việc tìm hiểu các hệ thống phân loại họ Thiên lý như đã trình bày ở trên, chúng tôi thấy hệ thống phân loại của S. Liede & F. Albers (1994) là một hệ thống tương đối hoàn hảo, hơn nữa nó phù hợp với việc sắp xếp các taxon của họ Thiên lý ở Việt Nam. Chính vì vậy chúng tôi đã lựa chọn hệ thống của S. Liede & F. Albers (1994) để áp dụng cho việc nghiên cứu phân loại họ Thiên lý ở Việt Nam.
Bên cạnh những công trình mang tính tổng thể các taxon của họ trên phạm vi thế giới, còn có nhiều công trình nghiên cứu riêng rẽ từng taxon hay nhóm các taxon và các công trình về thực vật chí các nước. Một số công trình nghiên cứu mang tính chất thực vật chí đáng chú ý ở châu Á trong thế kỷ XIX, XX là:
_ J. D. Hooker (1883) [32] đã chia họ Asclepiadaceae có mặt ở Ấn Độ và vùng lân cận ra thành 2 phân bộ-suborder (sau này được K. Schumann (1895) [131] chuyển thành phân họ-subfamily) là:
+ Suborder 1: Periploceae (Periplocaceae).
+ Suborder 2: Eusclepiadeae (Asclepiadoideae).
Tác giả đã mô tả 5 tông và 53 chi với 280 loài của vùng này.
_ G. King & S. Gamble (1907) đã mô tả các loài của hệ thực vật Malaixia.
_ J. Costantin (1912) đã lập khoá định loại và mô tả 5 tông, 42 chi với 145 loài ở Đông Dương.
_ Y. Tsiang (1934, 1936) đã mô tả riêng rẽ và trình bày danh pháp của gần 50 chi thuộc họ Asclepiadaceae ở châu Á. Đến năm 1977, tác giả cùng P. T. Li biên soạn Thực vật chí họ Apocynaceae và Asclepiadaceae ở Trung Quốc. Trong công trình này tác giả đã xây dựng khoá định loại và mô tả 44 chi, khoảng 270 loài có ở Trung Quốc, đồng thời chia họ Thiên lý thành 3 phân họ Periplocoideae, Secamonoideae và Asclepiadoideae với 7 tông: Gymnanthereae, Periploceae, Toxocarpeae, Secamoneae, Asclepiadeae, Marsdenieae và Ceropegieae.
_ A. F. G. Kerr (1951) đã trình bày danh lục của 41 chi với 145 loài của họ Thiên lý có ở Thái Lan.
_ C. A. Backer & R. C. Bakhuizen (1965) đã biên soạn họ Apocynaceae và Asclepiadaceae trong Thực vật chí Java.
_ P. T. Li và cộng sự (1995) đã chỉnh lý và công bố lại bằng tiếng Anh các họ Apocynaceae, Asclepiadaceae ở tập 63 Thực vật chí Trung Quốc.
Nhằm bổ sung căn cứ cho các công trình tổng thể mang tính hệ thống, người ta tiến hành nhiều công trình chuyên khảo từng taxon, nhóm taxon hay nghiên cứu các loạt đặc điểm. Ở đây cần phải kể đến các công trình sau:
_ B. Decoings (1961), trên cơ sở nghiên cứu đặc điểm của tràng phụ (corona) đơn hay kép, vị trí của tràng phụ xen kẽ hay đối diện với lá đài để phân biệt 11 chi thuộc tông Asclepiadeae là Cynanchum, Folotsia, Prosopostelma, Vohemuria,...
_ Những nghiên cứu về giải phẫu các bộ phận hoa của V. S. Rao (1963), R. Schill & V. Jaeckel (1978), B. Schick (1982), H. Kunze (1990, 1991, 1993, 1994), P. V. Bruyns & P. I. Foster (1991) và nhiều tác giả khác đã chỉ ra sự khác nhau trong quá trình phát triển của tràng phụ, khối phấn và cơ quan truyền phấn, chỉ nhị. Đó là những dẫn liệu quan trọng để phân biệt một số tông và nhiều chi trong họ Thiên lý cũng như tìm hiểu mối quan hệ thân cận giữa chúng.
_ Công trình của T. C. Huang (1972) đã bổ sung dẫn liệu về hình thái cơ quan truyền phấn của 12 loài họ Thiên lý có ở Đài Loan. Công trình của A. EL-Gazzar & M. K. Hamza (1974) đã minh hoạ khái quát về hình thái cơ quan truyền phấn và xây dựng khoá định loại của 20 chi và 32 loài của họ Thiên lý.
_ Những nghiên cứu về thành phần hoá học của D. Frohne & V. Jensen (1973) [124] đã đưa ra nhận xét lý thú rằng, ở họ Apocynaceae chứa cả 2 loại hợp chất là alcaloide (indol-alcaloide) và glycoside ở họ Asclepiadaceae chứa chủ yếu là glycoside, alcaloide rất ít gặp ở Asclepiadaceae còn indol-alcaloide lại vắng mặt hoàn toàn ở họ này.
_ Các nghiên cứu phân tích phân tử ADN của I. Civeyrel (1996) đã làm sáng tỏ vị trí phân loại một số chi trong tông Marsdenieae, Ceropegieae và Pentopentia. Đồng thời nó đưa lại những dẫn liệu bước đầu gợi cho các nhà nghiên cứu ý tưởng sát nhập họ Asclepiadaceae vào họ Apocynaceae.
_ P. V. Bruyns & P. I. Forster (1991) đã áp dụng phương pháp toán-tin học, sử dụng 25 đặc điểm để xây dựng ma trận các đặc điểm và sơ đồ (cladistic) về mối quan hệ của 16 chi trong tông Asclepiadeae. Cũng bằng phương pháp trên, năm 2000 [38], P. V. Bruyns đã sử dụng 55 đặc điểm để tìm hiểu mối quan hệ thân cận có thể của 35 chi trong tông Ceropegieae.
Cho đến nay ở Việt Nam, công trình nghiên cứu về họ Thiên lý còn quá ít, vì:
_ Đây là họ rất khó định loại. Tiêu chuẩn xác định tên taxon dựa chủ yếu vào vi cấu trúc như hạt phấn, khối phấn, cơ quan truyền phấn (translator), tràng phụ. Các đặc điểm này bằng mắt thường không thể nhìn thấy được mà phải có sự trợ giúp của kính phóng đại mới quan sát và phân biệt được.
_ Đây là họ gồm phần lớn là dây leo nhỏ, số lượng cá thể các loài ít, phân bố rất rải rác, nếu không tập trung quan sát khi điều tra khảo sát ngoài thực địa thì không thể thu thập được mẫu vật.
_ Đây là họ mà các bộ phận của nó đều chứa nhựa mủ, rất dễ rụng và hư hỏng khi thu thập và xử lý ngoài thực địa. Trước đây khi chưa tìm được phương pháp thích hợp để xử lý mẫu ngoài thực địa nên các mẫu vật thu được phải nhúng nước sôi hoặc bằng mọi cách sấy khô nếu không thì sau 1-2 ngày mẫu bị rụng hết hoa, lá hoặc bị thối rữa, không còn đủ tiêu chuẩn để định loại. Vì vậy số lượng mẫu vật họ này ở các phòng tiêu bản rất ít và phần lớn trong số đó đã bị rụng hết hoa, lá, rất khó khăn cho việc nghiên cứu.
Người đầu tiên đề cập đến một số taxon ở Việt Nam mà ngày nay thuộc họ Asclepiadaceae (trước đây thuộc họ Apocynaceae) là J. Loureiro (1790). Tác giả đã mô tả ngắn gọn 17 chi, 26 loài có ở Việt Nam. Các dẫn liệu đưa ra trong công trình này chỉ mang tính lịch sử, rất khó tìm lại trên thực địa. Hiện nay không có mẫu vật nào thời đó còn được bảo quản ở Việt Nam.
Đầu của thế kỷ XX, ở Việt Nam mới có một công trình có tính hệ thống và đề cập tương đối đầy đủ những hiểu biết phân loại họ Asclepiadaceae thời đó, là công trình của J. Costantin (1912). Tác giả đã lập khoá định loại và mô tả 5 tông, 42 chi với 145 loài ở Đông Dương, trong đó ở Việt Nam có 38 chi, 104 loài. Tất cả các taxon được xếp vào 5 tông theo hệ thống của G. Bentham & J. D. Hooker (1876). Tuy công trình được công bố cách đây hơn 90 năm và còn nhiều hạn chế, nhưng đến nay nó vẫn là công trình thực vật chí duy nhất dùng để tra cứu, định loại họ Thiên lý ở Đông Dương và ở Việt Nam.
Lê Khả Kế (1969) lập khoá định loại 7 chi và mô tả 8 loài của họ Asclepiadaceae thường gặp ở Bắc Việt Nam.
Nguyễn Tiến Bân (1997) đã mô tả các đặc điểm chính của họ và nêu danh sách của gần 50 chi của họ Thiên lý.
Đáng chú ý nhất là công trình của Phạm Hoàng Hộ (1972, 1993, 2000). Tác giả đã lập khoá định loại 5 tông, 41 chi và mô tả sơ lược kèm theo hình vẽ của 114 loài thuộc họ Asclepiadaceae ở Việt Nam. Đây là tài liệu quan trọng và có giá trị cao cho việc so sánh, xác định các loài của họ Thiên lý có ở Việt Nam.
Trần Thế Bách (2001, 2002, 2003, 2004, 2005) đã công bố 1 chi và một số loài bổ sung cho hệ thực vật Việt Nam, bước đầu ứng dụng phương pháp tin học trong việc tìm hiểu mối quan hệ của các taxon trong họ Thiên lý. Trong công trình “Danh lục các loài Thực vật Việt Nam” (2005), tác giả đã công bố danh sách các loài của họ Thiên lý.
Ngoài công trình mang tính chất phân loại đã trình bày ở trên, còn có một số ít các công trình khác đề cập đến giá trị sử dụng làm thuốc của các loài trong họ Thiên lý như: A. Petelot (1953), Đỗ Tất Lợi (1995), Võ Văn Chi (1997), Viện Dược liệu (2004, 2005) đã đưa ra 10 loài làm thuốc thuộc họ Thiên lý.
Dựa vào hệ thống phân loại của S. Liede & F. Albert (1994), các chi của họ Thiên lý ở Việt Nam được chúng tôi sắp xếp như sau. (bảng 2):


KHOÁ ĐỊNH LOẠI CÁC CHI THUỘC HỌ THIÊN LÝ (ASCLEPIADACEAE) Ở VIỆT NAM
| 1A. | Bao phấn 4 ô, hạt phấn họp thành nhóm 4 hoặc dính thành khối phấn nhưng không có sáp bao bên ngoài vách khối phấn. | |
| 2A. | Hạt phấn họp thành nhóm 4 hay đôi khi dính thành khối phấn nằm trong cơ quan truyền phấn hình thìa có đáy mở rộng thành đĩa dính mềm, không có gót đính | (Subfam.1. PERIPLOCOIDEAE) (Trib.1. Periploceae) |
| 3A. | Cây bụi đứng | 1. TELECTADIUM |
| 3B. | Cây leo hay trườn. | |
| 4A. | Tràng phụ dính với tràng. | |
| 5A. | Tiền khai hoa van. | 2. HEMIDESMUS |
| 5B. | Tiền khai hoa vặn. | |
| 6A. | Vảy tràng phụ không xẻ thùy. | 3. CRYPTOLEPIS |
| 6B. | Vảy tràng phụ xẻ sâu thành 2 thùy | 4. ZYGOSTELMA |
| 4B. | Tràng phụ không dính với tràng. | |
| 7A. | Giữa các chỉ nhị không có tuyến. | |
| 8A. | Vảy tràng phụ hình trứng. | 5. GYMNANTHERA |
| 8B. | Vảy tràng phụ hình sợi . | 6. FINLAYSONIA |
| 7B. | Giữa các chỉ nhị có tuyến. | |
| 9A. | Mặt trong của đài không có tuyến ở đáy. | |
| 10A. | Vảy tràng phụ ngắn, hình tam giác | 7. ATHEROLEPIS |
| 10B. | Vảy tràng phụ dài, hình sợi. | 8. ATHERANDRA |
| 9B. | Mặt trong của đài có tuyến ở đáy. | |
| 11A. | Bao phấn có lông. Thùy tràng phụ chia 3 phần, phần ở giữa dạng sợi, 2 phần bên rộng ra dạng cái nắp túi. | 9. PERIPLOCA |
| 11B. | Bao phấn nhẵn. Thùy tràng phụ không chia thành 3 phần như trên. | |
| 12A. | Quả không có gờ như cánh, có lông dày. | 10. STREPTOCAULON |
| 12B. | Quả có gờ như cánh, nhẵn. | 11. MYRIOPTERON |
| 2B. | Hạt phấn họp thành khối phấn nằm trong cơ quan truyền phấn dạng cái kẹp cứng, có gót đính | (Subfam.2. SECAMONOIDEAE)...... (Trib.2. Secamoneae). |
| 13A. | Bao phấn không có phần phụ dạng màng mỏng ở đỉnh. Hoa to (> 5 mm). | 12. TOXOCARPUS |
| 13B. | Bao phấn có phần phụ dạng màng mỏng ở đỉnh. Hoa nhỏ (< 5 mm). | |
| 14A. | Mặt trong thùy tràng có lông, vảy tràng phụ hình tam giác. | 13. GENIANTHUS |
| 14B. | Mặt trong thùy tràng không có lông, vảy tràng phụ hình lưỡi liềm. | 14. SECAMONE |
| 1B. | Bao phấn 2 ô, hạt phấn dính thành khối phấn và có sáp bao bên ngoài vách khối phấn | (Subfam.3. ASCLEPIADOIDEAE). |
| 15A. | Cơ quan truyền phấn không có chuôi | (Trib.3. Fockeae)............... 15. FOCKEA |
| 15B. | Cơ quan truyền phấn có chuôi. | |
| 16A. | Khối phấn hướng lên (thường nằm phía trên gót đính); đỉnh bầu không thót lại thành dạng vòi nhụy. | |
| 17A. | Bao phấn có phần phụ ở đỉnh | (Trib.4. Marsdenieae) |
| 18A. | Khối phấn không có mỏm ở đỉnh hoặc phía trong. | |
| 19A. | Cây phụ sinh hay bám trên đá, có rễ phụ trên thân. Lá nạc. | |
| 20A. | Tràng hình bánh xe, tràng phụ nạc. | 16. HOYA |
| 20B. | Tràng hình cái hũ, tràng phụ không nạc. | 17. DISCHIDIA |
| 19B. | Cây leo, không phụ sinh, không có rễ phụ phát triển trên thân. Lá không nạc. | |
| 21A. | Thuỳ tràng gập trong nụ. | 18. LYGISMA |
| 21B. | Thuỳ tràng không gập trong nụ. | |
| 22A. | Không có tràng phụ. | |
| 23A. | Cột nhị-nhụy có cuống ngắn. | 19. SARCOLOBUS |
| 23B. | Cột nhị-nhụy không có cuống. | |
| 24A. | Nụ hoa hình cầu. Thùy đài có chóp tù, có lông. | 20. PSEUDOSARCOLOBUS |
| 24B. | Nụ hình nón. Thùy đài có chóp nhọn, nhẵn. | 21. SPIRELLA |
| 22B. | Có tràng phụ. | |
| 25A. | Tràng phụ đơn. | |
| 26A. | Vảy tràng phụ dính ở tràng. | |
| 27A. | Đầu nhụy không phồng lên. | |
| 28A. | Gót đính phồng lên. | 22. GYMNEMOPSIS |
| 28B. | Gót đính lõm. | 23. HARMANDIELLA |
| 27B. | Đầu nhụy phồng lên. | 24. GYMNEMA |
| 26B. | Vảy tràng phụ không dính với tràng. | |
| 29A. | Tràng hình cái hũ. | |
| 30A. | Mặt trong thùy tràng dày lên thành gờ. | 25. DISCHIDANTHUS |
| 30B. | Mặt trong thùy tràng không dày lên thành gờ. | 26. MARSDENIA |
| 29B. | Tràng hình bánh xe hay hình cái kèn trumpet. | |
| 31A. | Tràng hình bánh xe, phần dính nhau của tràng không tạo thành hình ống. | |
| 32A. | Tràng phụ nạc. | 27. DREGEA |
| 32B. | Tràng phụ không nạc. | 28. COSMOSTIGMA |
| 31B. | Tràng hình cái kèn trumpet, phần dính nhau của tràng tạo thành hình ống | 29.TELOSMA |
| 25B. | Tràng phụ kép. | 30. CAMPESTIGMA |
| 18B. | Khối phấn có mỏm ở đỉnh hoặc phía trong. | |
| 33A. | Cây đứng. | 31. PENTASACME |
| 33B. | Cây leo hay trườn | 32. HETEROSTEMMA |
| 17B. | Bao phấn không có phần phụ ở đỉnh | (Trib.5. Ceropegieae) |
| 34A. | Thân không có cạnh (không giống Xương rồng). Hoa không nạc. | 33. CEROPEGIA |
| 34B. | Thân có cạnh (gần giống như Xương rồng). Hoa nạc. | |
| 35A. | Mặt trong của tràng có lông cứng. | |
| 36A. | Khối phấn hình chữ D, chiều dài gót lớn hơn 2 lần chiều rộng. | 34. TAVARESIA |
| 36B. | Khối phấn hình bầu dục, chiều dài gót nhỏ hơn 2 lần chiều rộng | 35. HUERNIA |
| 35B. | Mặt trong của tràng không có lông cứng. | |
| 37A. | Mặt trong của tràng có lông mềm, khối phấn hình chữ D | 36. STAPELIA |
| 37B. | Mặt trong của tràng nhẵn, khối phấn hình bầu dục. | 37. ECHIDNOPSIS |
| 16B. | Khối phấn treo (thường nằm phía dưới gót đính); đỉnh bầu thót lại thành dạng vòi nhụy. | (Trib.6. Asclepiadeae) |
| 38A. | Tràng phụ kép. | |
| 39A. | Lá tiêu giảm. | 38. SARCOSTEMMA |
| 39B. | Lá phát triển (không tiêu giảm). | 39. OXYSTELMA |
| 38B. | Tràng phụ đơn. | |
| 40A. | Tràng phụ dính nhau. | |
| 41A. | Hoa to (đường kính hoa lớn hơn 1,5 cm). | 40. RAPHISTEMMA |
| 41B. | Hoa nhỏ (đường kính hoa nhỏ hơn 8 mm). | |
| 42A. | Tràng phụ hình chén. | 41. CYNANCHUM |
| 42B. | Tràng phụ không hình chén. | 42. PENTATROPIS |
| 40B. | Tràng phụ rời nhau. | |
| 43A. | Cây leo. | |
| 44A. | Trục cụm hoa mập. Thùy tràng dài 4 mm. Quả có vỏ dày. | 43. MERRILLANTHUS |
| 44B. | Trục cụm hoa mảnh. Thùy tràng dài nhỏ hơn 3 mm. Quả có vỏ mỏng. | 44. TYLOPHORA |
| 43B. | Cây đứng. | |
| 45A. | Vảy tràng phụ có phần phụ dạng sừng. | 45. ASCLEPIAS |
| 45B. | Vảy tràng phụ không có phần phụ dạng sừng | |
| 46A. | Vảy tràng phụ ở đáy không có cựa. | |
| 47A. | Quả không có gai | 46. VINCETOXICOPSIS |
| 47B. | Quả có gai | 47. GOMPHOCARPUS |
| 46B. | Vảy tràng phụ ở đáy có cựa. | 48. CALOTROPIS |
| Chi chưa đủ thông tin | ||
| 49. CRYPTOSTEGIA |